Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Bạn đang xem: LỊCH SỬ Đơn vị hành chính tỉnh Cao Bằng thời thuộc Pháp

Đơn vị hành chính tỉnh Cao Bằng thời thuộc Pháp

Sau khi đánh chiếm được Cao Bằng (tháng 10/1886), thực dân Pháp thiết lập các hình thức cai trị bằng quân sự. Từ năm 1888, thực dân Pháp đã phân chia địa bàn từ Thanh Hóa trở ra Bắc thành 14 quân khu, mỗi quân khu do một sỹ quan cấp đại tá hoặc cấp tướng trực tiếp chỉ huy. Cao Bằng là một quân khu. Quân khu Cao Bằng gồm Tiểu quân khu Cao Bằng và các đồn binh: Cao Bằng, Sóc Giang, Nguyên Bình, Ngân Sơn, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa, Nặm Nàng.

Ngày 6/8/1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ các quân khu và thiết lập các đạo quan binh. Đạo quan binh là đơn vị hành chính đặc biệt do giới quân sự nắm quyền cai trị. Mỗi đạo quan binh do một sỹ quan đứng đầu làm tư lệnh với đầy đủ quyền dân sự và quân sự, thời kỳ đầu về dân sự ngang với Thống sứ Bắc Kỳ. 
Ngày 20/8/1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tại Bắc Kỳ 4 đạo quan binh: Đạo quan binh 1 Phả Lại, Đạo quan binh 2 Lạng Sơn, Đạo quan binh 3 Yên Bái, Đạo quan binh 4 Sơn La. Cao Bằng là một tiểu quân khu thuộc Đạo quan binh 2 Lạng Sơn, thủ phủ đặt tại Cao Bằng. Sau Tiểu quân khu Cao Bằng chuyển thành Đạo quan binh 2 Cao Bằng, đạo lỵ đặt tại Cao Bằng, gồm 3 tiểu quân khu: Cao Bằng, Bảo Lạc, Bắc Kạn.

Ngày 1/1/1906, Toàn quyền Đông Dương đã ra quyết định: “Các đạo quan binh 2, 3 và 4 được đặt lại, về phương diện tài chính dưới quyền của Thống sứ Bắc Kỳ và được cai trị theo luật lệ hiện hành tại các tỉnh dân sự. Việc cai trị các đạo quan binh 2, 3 và 4 vẫn đặt dưới quyền một sỹ quan cao cấp đại tá hoặc trung tá. Mỗi đạo quan binh được phân thành 2 hạt. Việc chia thành khu vực bị bãi bỏ”.

Từ sau nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 16/4/1908, đạo quan binh chia thành các đơn vị hành chính và tư pháp ngang với công sứ các tỉnh dân sự.

Về biên giới lãnh thổ, thực dân Pháp xúc tiến việc điều đình với triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc) về đường biên, mốc giới. Các công ước hoạch định biên giới ngày 20/6/1885 và ngày 20/6/1887 đã hình thành địa giới chính thức Việt Nam - Trung Quốc mang tính pháp lý quốc tế có chiều dài 1.463 km với 341 cột mốc. Trên phần đất Cao Bằng giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) có đường biên giới dài 311 km với 161 cột mốc (trong đó có 117 mốc chính, 44 mốc phụ), từ cột mốc số 20 xã Đức Long, châu Thạch An đến cột mốc phụ số 137 thuộc địa bàn xã Đức Hạnh, châu Bảo Lạc (nay thuộc huyện Bảo Lâm). Trong lần đàm phán ngày 13/3/1894, hai bên đã thỏa thuận: Triều đình Mãn Thanh trả lại các thôn Lý Vạn, Bản Khoòng, Lũng Đa; Pháp phải cắt phần đất tổng Điền Lang cho triều đình Mãn Thanh với vùng đất rộng 250 km2, với hàng nghìn ha đất màu mỡ nhất của châu Hạ Lang. Đường biên giới hình thành đã lần lượt ra đời các cửa khẩu, thời thuộc Pháp, Cao Bằng có 7 cửa khẩu: Tà Lùng, châu Phục Hòa; Nà Lạn, xã Đức Long, châu Thạch An; Bí Hà, xã Thị Hoa, châu Hạ Lang; Lý Vạn, xã Lý Quốc, châu Hạ Lang; Pò Peo, xã Ngọc Khê, châu Thượng Lang; Hùng Quốc, xã Hùng Quốc, châu Trà Lĩnh; Sóc Giang, xã Sóc Hà, châu Hà Quảng.

Từ năm 1886 đến năm 1945, tên gọi, địa giới và số lượng các đơn vị hành chính tỉnh Cao Bằng luôn có sự thay đổi. Cuối thế kỷ XIX, tỉnh Cao Bằng gồm có phủ Trùng Khánh, với 3 châu: Thượng Lang, Hạ Lang, Quảng Uyên và phủ Hòa An, với 3 châu: Thạch Lâm, Thạch An, Nguyên Bình.

Năm 1926, theo sách “Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ” của Đỗ Đình Nghiêm - Ngô Vi Liễn - Phạm Văn Thư thì “Cao Bằng là Đạo quan binh thứ nhì” gồm 1 phủ Hòa An (phủ lỵ ở Nước Hai); 7 châu: Hà Quảng,

Thạch An (châu lỵ ở Đông Khê), Nguyên Bình, Phục Hòa (châu lỵ ở Tà Lùng), Quảng Uyên, Thượng Lang (châu lỵ ở Trùng Khánh phủ) và Hạ Lang; 3 đại lý: Quảng Uyên, Nguyên Bình, Đông Khê; 31 tổng và 222 xã.

Theo cuốn “Danh mục các xã Bắc Kỳ”, tỉnh Cao Bằng gồm 1 phủ, 8 châu, 33 tổng, 230 xã, đó là:

Phủ Hòa An có 7 tổng: Tổng An Lại có 6 xã; tổng Cao Bằng có 7 xã; tổng Hà Đàm có 5 xã; tổng Nhượng Bạn có 11 xã; tổng Tĩnh Oa có 9 xã; tổng Tượng Yên có 11 xã; tổng Xuân Sơn có 5 xã.

Châu Bảo Lạc có 2 tổng: Tổng Mông Ân có 5 xã; tổng Nam Quang có 5 xã.

Châu Hà Quảng có 4 tổng: Tổng Hà Quảng có 6 xã; tổng Phù Đúng có 8 xã; tổng Thông Nông có 8 xã; tổng Trung An có 9 xã.

Châu Hạ Lang có 1 tổng: Tổng Lệnh Cấm có 12 xã.

Châu Nguyên Bình có 2 tổng: Tổng Gia Bằng có 7 xã; tổng Kim Mã có 8 xã.

Châu Phục Hòa có 2 tổng: Tổng Cách Linh có 8 xã; tổng Phục Hòa có 9 xã.

Châu Quảng Uyên có 5 tổng: Tổng Cổ Nông có 6 xã; tổng Lạc Giao có 7 xã; tổng Lực Nông có 5 xã; tổng Ngưỡng Đồng có 5 xã; tổng Vũ Lăng có 5 xã.

Châu Thạch An có 4 tổng: Tổng Giang Ngô có 5 xã; tổng Ngọc Pha có 5 xã; tổng Thượng Pha có 7 xã; tổng Xuất Tính có 6 xã.

Châu Thượng Lang có 6 tổng: Tổng Lăng Yên có 11 xã; tổng Nga Ổ có 5 xã; tổng Phong Châu có 6 xã, tổng Phong Đằng có 7 xã; tổng Trà Lĩnh có 7 xã; tổng Ỷ Cống có 6 xã.

--
Theo Báo Cao Bằng