Trung Nguyên's Blog

Fri09202019

Last update01:49:27

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel
Back LỊCH SỬ Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 1)

Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 1)

LTS: Thực hiện Kế hoạch số 2402/KH-BTC ngày 10/7/2019 của Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm 520 năm thành lập tỉnh Cao Bằng (1499 - 2019); 69 năm Ngày giải phóng Cao Bằng (3/10/1950 - 3/10/2019), Báo Cao Bằng mở Chuyên mục “Cao Bằng 520 năm xây dựng và phát triển”, nhằm ôn lại truyền thống lịch sử, cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh trải qua 520 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển... Tiếp tục giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước; khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức xây dựng quê hương, đất nước đối với các thế hệ.

Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở vùng Đông Bắc; phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc), đường biên giới dài trên 333 km; phía Tây giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang; phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn. Theo chiều Bắc - Nam 80 km (từ xã Đức Hạnh, Bảo Lâm đến xã Quang Trọng, Thạch An). Theo chiều Đông - Tây 170 km (từ xã Lý Quốc, Hạ Lang đến xã Thạch Lâm, Bảo Lâm).
 
Bài 1: Thời kỳ phong kiến
Thị xã Cao Bằng (nay là Thành phố) năm 1935. Ảnh: t.l
Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 6.724,72 km2; là cao nguyên đá vôi xen với đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên cao từ 600 - 1.300 m so với mặt nước biển. Núi rừng chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh, đất bằng để canh tác chỉ có gần 10%. Non nước Cao Bằng đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc. Từ khi thành lập tỉnh đến nay đã trải qua những giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển mang dấu ấn sâu sắc.

Từ thời kỳ đầu dựng nước, vùng Cao Bằng đã có người Việt cổ cư trú, minh chứng qua các di chỉ khảo cổ, di tích đã được khai quật ở Hồng Việt (Hòa An), Cần Yên (Thông Nông), Lũng Ỏ (Quảng Uyên)… cùng truyền thuyết “Báo Luông - Slao Cải”, “Cẩu chủa cheng vùa”.

Địa danh Cao Bằng được chép trong sử sách từ rất sớm. Sách "Dư địa chí" do Nguyễn Trãi biên soạn năm 1435 đã ghi "Cao Bằng xưa là ngoại địa của bộ Vũ Định; Đông Bắc tiếp giáp Lưỡng Quảng; Tây Nam tiếp giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn. Có 1 lộ, 4 châu, 273 làng xã. Đấy là nơi phên dậu thứ tư về phương Bắc vậy".

Thời vua Lê Thánh Tông trị vì (1460 - 1497) vào năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đã chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên (Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn). Cao Bằng lúc đó gọi là phủ Bắc Bình thuộc thừa tuyên Thái Nguyên.

 Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Lê Thánh Tông cho định bản đồ của 12 thừa tuyên, trong nước có 49 phủ, 163 huyện, 50 châu. Đồng thời đổi tên 6 thừa tuyên. Thừa tuyên Thái Nguyên được đổi tên gọi là thừa tuyên Ninh Sóc.

Năm Hồng Đức thứ 3 (1472), Lê Thánh Tông đặt thêm thừa tuyên Quảng Nam, nước ta khi đó gồm 13 thừa tuyên, tổng cộng 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 36 phường. Phủ Cao Bằng thuộc thừa tuyên Ninh Sóc, có 4 châu.

Năm Hồng Đức thứ 4 (1473), thừa tuyên Ninh Sóc lại được đổi tên thành thừa tuyên Thái Nguyên, phủ Bắc Bình được đổi thành phủ Cao Bình (Cao Bằng) vẫn trực thuộc thừa tuyên Thái Nguyên.

Năm Cảnh Thống thứ 2 (1499), đời vua Lê Hiến Tông, nhà vua đã tách một số thừa tuyên thành các trấn mới, tại các trấn đó đã thiết lập bộ máy mới có chức năng quản lý hành chính và có trách nhiệm với triều đình Trung ương như các đạo thừa tuyên. Thừa tuyên Thái Nguyên được tách thành trấn Thái Nguyên và trấn Cao Bằng, theo "Phương Đình địa chí" và "Đại Việt địa dự toàn biên" của Nguyễn Văn Siêu thì: Năm Cảnh Thống thứ hai (1499), Cao Bằng được tách làm trấn riêng, sách ấy ghi rõ "Năm Cảnh Thống thứ 2 mới đặt riêng làm trấn Cao Bằng". Khi mới thành lập, Cao Bằng gồm 1 phủ, 4 châu: phủ Cao Bình, châu Thái Nguyên (Thạch Lâm), châu Lộng Nguyên, châu Thượng Lang, châu Hạ Lang. Trấn lỵ đặt tại Hòa An.

Như vậy từ năm 1499, Cao Bằng được tách khỏi Thái Nguyên thành lập một trấn riêng không lệ thuộc vào Thái Nguyên như trước. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử, trấn Cao Bằng xuất hiện. Đó là một niên đại quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử Cao Bằng, chứng tỏ vùng đất này đã phát triển đến mức trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương. Từ khi chia tách khỏi Thái Nguyên thành lập một trấn, Cao Bằng có bộ máy riêng để quản lý, điều hành mọi hoạt động trên lãnh thổ, bộ máy đó chịu sự quản lý điều hành của chính quyền nhà nước Trung ương (triều đình - nhà vua), bình đẳng với các trấn khác. 

 Đến thời nhà Mạc (1592 - 1677) lên Cao Bằng, đóng đô ở Cao Bình (nay thuộc xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng) và xã Hoàng Tung (Hòa An) đặt hiệu là Càn Thống, quản lý cả các vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn.

 Năm 1677, nhà Lê lại đặt trấn Cao Bằng. Trong "Đại Việt địa dư toàn biên" ghi rõ: "Đến năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) nhà Mạc mất, nhà Lê lại đặt làm trấn Cao Bằng. Đặt trọng trấn để cai trị, trấn này có 1 phủ, 4 châu". Chuyển lỵ trấn từ trung tâm Hòa An về Mục Mã, đó là trung tâm thành phố Cao Bằng ngày nay. 

Dưới thời Tây Sơn, năm 1789, sau khi đánh đuổi 29 vạn quân Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi đặt niên hiệu là Quang Trung, tiến hành chấn chỉnh lại hệ thống hành chính. Vua Quang Trung đã cho thay đổi tên gọi của Sơn Nam Thượng lộ và Sơn Nam hạ lộ thành Sơn Nam thượng trấn và hạ trấn, đồng thời để tránh tên húy của Quang Trung là Nguyễn Quang Bình, các vùng đất có tên là Bình đều phải đổi tên khác, thường được cải thành Bằng, như châu Lộc Bình, Lạng Sơn đổi thành Lộc Bằng, Tổng Bình Lục thuộc Sơn Nam thượng trấn đổi thành Ninh Lục. Vì vậy, trấn Cao Bình cũng bắt đầu đổi thành Cao Bằng. Vào đầu triều Nguyễn đặt lại tên cũ là Cao Bình, nhưng do thói quen kiêng kỵ nên sử sách và dân gian cho đến tận ngày nay vẫn gọi là Cao Bằng.

Từ thời Lê Trung Hưng đến trước khi vua Minh Mệnh cải cách hành chính (1831 - 1832) thì cả nước đã hình thành các đơn vị hành chính mới. Theo sách "Tên làng xã Việt Nam đến đầu thế kỷ XIX" là một bộ địa danh hành chính đời Gia Long (1801 - 1820), trấn Cao Bằng gồm 4 châu, 27 tổng, 233 xã, thôn, phường, trại, động.
  
Đinh Ngọc Viện (Báo Cao Bằng)

caytuyet re

tacnghiep re