Trung Nguyên's Blog

Fri09202019

Last update01:29:29

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel
Back LỊCH SỬ Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 5)

Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 5)

Bài 5: Nhà nước Nam Cương

Phố chính ở Cao Bằng xưa.

Từ buổi đầu dựng nước, Cao Bằng đã là nơi cư tụ của bộ lạc Âu Việt (còn gọi là Tây Vu, Tây Âu, Tây Âu Lạc) - một trong hai bộ lạc đầu tiên (Lạc Việt, Âu Việt) cùng xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam ngày nay. Thủ lĩnh của bộ lạc Âu Việt là Thục Phán. 

Nhà sử học Đào Duy Anh, trong “Đất nước Việt Nam qua các đời” viết: “Bộ lạc Tây Vu là bộ lạc căn bản của Thục Phán, nguyên trước kia chỉ là miền thượng lưu sông Lô, bao gồm cả miền thượng lưu sông Gâm và sông Chảy, tức miền Cao Bằng, Hà Giang và bắc Tuyên Quang ngày nay. Địa bàn này là nơi cư trú chủ yếu của người Tày…”.

Người Âu Việt còn cư trú ở cả vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốc). Bộ lạc Âu Việt (ở Việt Nam ngày nay: Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn…) là bộ lạc láng giềng lâu đời với bộ lạc Lạc Việt. Bộ lạc Lạc Việt cư trú chủ yếu ở vùng Phú Thọ, Vĩnh Yên... ngày nay. Theo truyền thuyết, bộ lạc Lạc Việt đã tồn tại qua 18 đời vua Hùng với trên 2000 năm (2879 - 257 TCN). Quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Lâm Thao, Bạch Hạc, Phú Thọ ngày nay). 

Thời kỳ đó, khoảng cuối thời Hùng Vương (257 TCN), thủ lĩnh của bộ lạc Âu Việt là Thục Phán làm chủ một vùng rộng lớn ở phía Nam Trung Quốc, vùng đó được gọi là nước Nam Cương, gồm miền Tây tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), cả vùng Cao Bằng và một số tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam ngày nay - mà trung tâm là vùng Cao Bằng. Nhà sử học Đào Duy Anh chỉ rõ: “…những bộ lạc Tây Âu ở phía Nam Tả Giang, ở miền Hữu Giang và cả miền thượng lưu sông Lô, thượng lưu sông Gâm, thượng lưu sông Cầu ở nước ta ngày nay… hợp thành bộ lạc liên hiệp Nam Cương mà Thục Phán là tù trưởng tối cao”. Nước Nam Cương lúc đó gồm 10 xứ mường, trong đó mường trung tâm là nơi Vua ở, đó là Kinh đô Nam Bình (nay là Cao Bình, xã Hưng Đạo - thành phố Cao Bằng, cách trung tâm thành phố Cao Bằng 10km), còn 9 mường xung quanh do chín chúa mường cai quản.

 Theo truyền thuyết, Thục Chế làm vua nước Nam Cương 60 năm, khi Thục Chế mất, con là Thục Phán tuy còn ít tuổi nhưng được thay thế vua cha lên làm vua nên các chúa không quy phục. Cả chín chúa mường đều đem quân về bao vây kinh thành đòi nhường lại ngôi vua. Thục Phán tuy còn nhỏ tuổi nhưng tỏ ra là người thông minh tài cán, trí tuệ hơn người. Thục Phán tổ chức cho 9 chúa lần lượt cùng nhau thi đấu võ, ai thắng sẽ được nhường ngôi vua, kết quả đấu võ bất phân thắng bại, nên không ai được nhường ngôi vua. Thục Phán lại bày ra cuộc đua tài: Ai giỏi nghề gì làm nghề đó, hẹn ba ngày ba đêm thì cuộc thi kết thúc, ai hoàn thành đúng hạn là giành phần thắng sẽ được làm vua. Mỗi chúa một việc thách nhau.

Thục Phán một mặt ký giao kèo để các chúa thi đấu với nhau, mặt khác chọn chín cung nữ đủ tài sắc, văn võ kiêm toàn, lẻn đi theo các chúa, dùng mỹ nhân kế để mê hoặc và làm thất bại cuộc đua tài của họ, khi sắp sửa thành công. 

 Kết quả là các chúa thi nhau mất rất nhiều công sức mà không chúa nào thắng cuộc. Thục Phán vẫn giữ ngôi vua. Các chúa đều quy phục. 

 Truyền thuyết chỉ ra nhiều di tích, nhiều việc làm bị bỏ dở trong cuộc đua tài của các chúa, nay các địa điểm vẫn còn và là những địa danh đã ghi dấu ấn sâu đậm trong sinh hoạt đời sống của nhân dân. Đó là các địa danh liên quan đến 9 chúa trong cuộc thi tài.

Chúa họ Hoàng đi nhổ mạ ở Phiêng Pha - xã Mai Long, huyện Nguyên Bình, đem về cấy ở cánh đồng Tổng Chúp - xã Hưng Đạo, huyện Hòa An. Chúa họ Lâm nung gạch bị quá lửa kết thành quặng, đó là Mỏ Sắt, xã Dân chủ, Hòa An. Chúa họ Nông đi lấy trống, ngủ say, trống lăn xuống vực, đó là Tổng Lằn, xã Thịnh Vượng, Nguyên Bình. Chúa họ Lý bắn cung để sót lá, cây đa trước đền Vua Lê, xã Hoàng Tung, Hòa An. Chúa họ Lương đóng thuyền chưa kịp lật, đó là Khau Lừa - tức đồi thuyền, Bế Triều, Hòa An. Chúa họ Hà xây thành không hoàn tất cửa đông - thành Nà Lữ, Hoàng Tung, Hòa An. Chúa họ Lục đẽo đá làm guốc, chưa xỏ quai ở đầu gò, Hưng Đạo, Thành phố. Chúa họ Đàm làm không trọn nghìn bài thơ, bỏ lại bút nghiên cũng tại xã Hoàng Tung, Hòa An. Chúa họ Trương mài lưỡi cày thành kim khâu, chưa hoàn tất (chưa kịp xỏ lỗ) đã ném sang Trung Quốc.

Bên cạnh truyền thuyết, các yếu tố về ngôn ngữ, địa danh cũng góp phần giúp các nhà nghiên cứu đưa ra những giả thuyết về nhân vật Thục Phán và vị trí địa bàn lãnh thổ nước Nam Cương. Về địa danh vẫn lưu truyền tên gọi của người Tày cổ (Tây Âu - Tày Hâu).

Những bộ lạc cư trú gần nhau họp thành liên minh, tôn bồ chính, bộ lạc nào đông người, giàu có hơn, có thế lực hơn được tôn làm trưởng, gọi là Chúa đất. Mọi người gọi chung tộc người mình sinh sống cùng nhau là Tày Hây hay Tày Hâu (có nghĩa người Tày chúng ta - người Tày mình), cư trú ở vùng Tây Âu. Có lúc gọi vùng này là đất Tây Vu vì người Tày thời đó tôn ông Pụt (bụt), ông Giàng làm Phụ đạo (cha dẫn đường) thủ lĩnh bộ lạc. Vu nghĩa là đồng bóng, Pụt then là một dạng đồng bóng.

Các cộng đồng cư dân ở Tây Âu với bản tính sống đơn giản, mộc mạc, chất phác, các chúa đất vùng Tây Âu ít va chạm nội bộ, họ thường thể hiện sự giúp đỡ tương trợ giữa các xứ khi gặp khó khăn hoạn nạn.

Đất Tây Âu giáp với phía Nam của Trung Quốc, nên người Trung Quốc trước đây gọi vùng phía nam này là Nam Cương (có nghĩa là nơi giới hạn đất đai - lãnh thổ ở phía Nam, có lẽ vì vậy mà có tên gọi nước Nam Cương). 

Theo truyền thuyết Chín Chúa tranh ngôi vua, thì xứ Cao Bình là của Thục Chế trưởng liên minh các bộ lạc Tày, có thế lực lớn. Cao Bình ở trung tâm Tây Âu. Khi cuộc họp tranh tài diễn ra thì các chúa đất ở các vùng thuộc lưu vực sông Lô, sông Gâm, bắc sông Cầu có thể đến dự họp bằng ngựa, còn các chúa đất lưu vực sông Hữu Giang, Tả Giang, Uất Giang… và cả Kỳ Cùng đều đến được bằng thuyền, bè. 

Hiện nay trên địa bàn Cao Bằng còn một số dấu tích vật thể và phi vất thể liên quan đến nước Nam Cương, đó là dấu vết của một tòa thành, dân gian gọi là thành Bản Phủ. Tương truyền đây là thành của Tục Pắn (Thục Phán), người đã giành chiến thắng được tôn làm vua nước Nam Cương sau cuộc đua tài “Cẩu chủa cheng vùa” (Chín chúa tranh vua). Thành này có hai lớp tường thành đất bao bọc gợi ra truyền thống đắp thành Cổ Loa sau khi An Dương Vương rời Cao Bằng xuống đóng đô ở đồng bằng. 

Phía trước tòa thành là hồ sen (trước đây rộng 7 ha) và cánh đồng Cao Bình, tiếp là cánh đồng Tổng Chúp, trước đó gọi là cánh đồng Tổng Quảng nghĩa là cánh đồng rộng, sau cuộc đua tài của chúa Tiến Đạt chưa cấy hết (còn bằng cái nón) nên gọi là Tổng Chúp. Ngay chân thành là giếng ngọc - thường gọi là Bó Phủ, nước trong vắt quanh năm. Gần kinh thành có cây đa cổ thụ, tương truyền là chúa Kim Đán dùng cung tên bắn gần trụi hết lá. Ra khỏi vòng thành ngoài, ở gần Đầu Gò còn có một đôi guốc đá khổng lồ chưa kịp đục lỗ xỏ quai, đó là kết quả đua tài của chúa Văn Thắng; tiếp tục đi theo quốc lộ (hướng lên Pác Bó) khoảng 1km, ở bên phải có một quả đồi gọi là Khau Lừa (tức đồi thuyền), theo truyền thuyết đó là con thuyền của Ngọc Tặng chưa kịp lật; đối diện với Khau Lừa bên kia sông Bằng là thành Nà Lữ còn thiếu một cửa do cuộc đua tài của Thành Giáng bị bỏ dở… 

Tại kinh đô Nam Bình, Thục Phán đã tổ chức nhiều cuộc thi và giành thắng lợi trước các chúa. Trong tâm thức nhân dân vẫn còn nhiều tập tục- có thể gọi là một loại hình văn hóa tộc người lưu lại, liên quan đến Thục Phán - An Dương Vương. 

Đinh Ngọc Viện (Báo Cao Bằng)

caytuyet re

tacnghiep re