Trung Nguyên's Blog

Sun11172019

Last update21:42:38

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel
Back LỊCH SỬ Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 8)

Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 8)

 Bài 8: Nùng Trí Cao với việc bảo vệ vùng biên viễn phía Bắc thời kỳ Đại Cồ Việt
Đền thờ Nùng Trí Cao.

Châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) ở xa triều đình, vào thời Lý là vùng đất đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt nhưng nổi tiếng vì có nhiều vàng, bạc, chì, thiếc... Từ trước khi nước Đại Cồ Việt độc lập (968) đến những thế kỷ sau, vùng đất này luôn bị nhà Tống dòm ngó tìm mọi cách xâm chiếm. Mà thời kỳ đó, nhà nước Đại Việt chưa thật sự đủ sức để quản lý chặt chẽ. Theo nhà sử học Hoàng Xuân Hãn: Ở Cao Bằng thế kỷ XI - XIV, các dòng họ có ảnh hưởng lớn đến tình hình Cao Bằng là họ Nùng và họ Hoàng. Họ Nùng phần lớn quản lý các châu: An Bình, Vũ Lặc, Tư Lãng và Thất Nguyên thuộc Tả Giang và ở Quảng Nguyên, tức là trên đất Lạng Sơn, Cao Bằng ngày nay. Trên đất Quảng Nguyên, họ Nùng ở xen lẫn với một vài tộc người khác. Còn họ Hoàng ở về phía Bắc và Tây Bắc biên giới Cao Bằng.

Thời ký Lý Thái Tông làm vua Đại Cồ Việt (1028 - 1054), Nùng Tồn Phúc ở động Tượng Cần (nay thuộc thành phố Cao Bằng) làm thủ lĩnh châu Thảng Do. Từ trước năm 1038, Tồn Phúc là thủ lĩnh các dân tộc Tày, Nùng từ lâu vẫn nộp cống cho triều đình nhà Lý và giúp nhà Lý. Nùng Tồn Phúc và em trai là Nùng Tồn Lộc, em vợ là Đương Đạo, quản lý, bảo vệ giữ gìn một vùng biên giới phía Bắc gồm cả một phần Lạng Sơn và Cao Bằng. Nhưng sau đó, do bất bình nên năm 1039, Nùng Tồn Phúc chống lại triều đình. Ông tổ chức lực lượng, xây dựng thành trì, lập nước Trường Sinh. Nùng Tồn Phúc tự phong mình là Chiêu Thánh Hoàng Đế, vợ là A Nùng làm Minh Đức Hoàng hậu và con là Trí Thông làm Điền Nha vương.

Được tin báo về cuộc nổi dậy của họ Nùng ở châu Thảng Do, tháng 3/1039, vua Lý Thái Tông đã đích thân dẫn quân lên trấn áp. Nùng Tồn Phúc cùng gia đình phải chạy trốn, vua Lý cho quân đuổi theo, bắt được Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Trí Thông. Vợ và con nhỏ là Nùng Trí Cao trốn thoát. Đồn lũy của họ Nùng bị san phẳng.

Hai năm sau (1041), A Nùng cùng con là Nùng Trí Cao từ động Lôi Hỏa trở về châu Thảng Do, chiêu tập binh mã dựng nước Đại Lịch. Vua Lý Thái Tông sai tướng đem quân đi đánh châu Thảng Do, bắt sống được Nùng Trí Cao đưa về Thăng Long. Nhưng lịch sử cũng có yếu tố bất ngờ: Nùng Trí Cao chẳng những được tha bổng mà còn được triều đình nhà Lý cho học hành tại kinh đô (khoảng 3 năm) cùng với con cháu dòng dõi tôn thất nhà Lý, rồi phong làm châu mục Quảng Nguyên; vua Lý lại ban thêm cho 4 động là Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang (nay là hai huyện Trùng Khánh, Hạ Lang) hợp với ý nguyện của Nùng Trí Cao. Ba năm sau (1/9/1043), vua Lý Thái Tông cử Nguy Trưng đến tận châu Quảng Nguyên ban đô ấn và gia phong cho Nùng Trí Cao chức Thái bảo (một chức lớn thuộc hàng tam thái (Thái sư, Thái úy, Thái bảo). Cuối năm 1044, Trí Cao về Kinh đô Thăng Long chầu vua Lý, tương truyền Lý Thường Kiệt là người phản đối quyết định này và đã bị vua Lý bắt tội.

Trước sự kiện này, sau đó sử gia Lê Văn Hưu cho rằng vua Lý vì “say đắm cái lòng nhân nhỏ nhặt của đạo Phật mà thưởng phạt không phép tắc gì”. Có lẽ cả Lý Thường Kiệt và sử gia Lê Văn Hưu lúc đó đều chưa hiểu ý đồ sâu xa của vua Lý. Đó là kế an dân giữ đất, giúp quản lý bảo vệ lãnh thổ ở vùng biên viễn xa xôi. Bởi vì, trong điều kiện nhà Lý chưa thể quản lý và kiểm soát chặt chẽ các vùng biên viễn, mà theo truyền ngôn lại, hầu hết đất đai của Quảng Nguyên bị người Tống chiếm lấn, nên Trí Cao đại diện cho nhân dân trong vùng đứng lên với tinh thần tự tôn tộc, tự tôn quốc gia trỗi dậy đã giúp họ Nùng xây dựng được một lực lượng lớn mạnh, đánh đuổi quân Tống ra khỏi địa bàn của tổ tiên mình, giúp Đại Cồ Việt quản lý và bảo vệ được vùng biên viễn. Điều đó đã làm cho vua Lý phải dùng sách lược thu phục Nùng Trí Cao.

Sau nhiều năm nhận chức quan, hưởng ân huệ, chức tước, chịu trách nhiệm trước triều đình quản lý lãnh thổ... Nùng Trí Cao đã giúp Đại Cồ Việt quản lý và bảo vệ được vùng biên viễn, sau khi lực lượng đã lớn mạnh hơn, năm 1048, thủ lĩnh Trí Cao lại nổi dậy ở động Vật Ác, với ý định muốn thoát khỏi sự lệ thuộc vào chính quyền nhà Lý cũng như nhà Tống.

 Năm 1048, vua Lý Thái Tông sai Thái úy Quách Thịnh Dật đem quân đến trấn áp nhưng bị thua to. Trí Cao chiếm cả châu An Đức (nay là huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây) làm căn cứ địa xây dựng nước Nam Thiên, lấy niên hiệu Cảnh Thuy. Từ đây, Nùng Trí Cao bắt đầu đụng chạm đến nhà Tống. Năm 1050, viên chỉ huy sứ Ung Châu là Kỳ Bân được lệnh nhà Tống đã cất quân sang xâm chiếm Đại Cồ Việt, đánh Nùng Trí Cao, hòng tiêu diệt Trí Cao nhưng đã bị Trí Cao đánh bại, Kỳ Bân bị bắt… Sau thắng lợi này, Trí Cao đứng ở giữa hai đối thủ đều mạnh hơn mình là vương triều Lý và vương triều Tống. Biết không thể cùng một lúc đối chọi với cả hai, Nùng Trí Cao có ý định tạm thời phụ nhà Tống, nhưng chỉ là mưu kế nhất thời, để củng cố lực lượng, hạn chế sự chú ý của nhà Tống, song bị nhà Tống khước từ, với lý do Trí Cao đã đi theo Đại Cồ Việt và giúp Đại Cồ Việt, được nhà vua Đại Cồ Việt ban ấn và gia phong... 

 Với sự tính toán của mình, đầu năm 1052, triều đình nhà Tống cử kinh lược sứ Ung Châu là Tôn Tú tiếp tục đem quân sang xâm chiếm Quảng Nguyên, làm cho Trí Cao rơi vào tình thế khó khăn, trước tình hình đó, Nùng Trí Cao quyết định chặn đánh và đến tháng 4/1052, Trí Cao đánh bật được quân Tống ra khỏi biên cương Đại Cồ Việt. Nhân đà thắng lợi, Trí Cao tấn công sang đất Tống. Dựa vào núi rừng hiểm yếu, chiêu nạp thêm binh sĩ, củng cố quân đội, liên kết với các tù trưởng địa phương, Nùng Trí Cao đã tiến đánh Ung Châu và giành thắng lợi lớn. Ông xưng là Nhân Huệ Hoàng đế và đổi niên hiệu là Khải Lịch, quốc hiệu là Đại Nam. Thanh thế của quân Nùng Trí Cao ngày càng lớn, chỉ trong vòng hai tuần đã tiến đến chiếm thành Quảng Châu. Nhà Tống lo sợ cuống cuồng vì không làm cách nào cản nổi bước tiến của quân Trí Cao.  

Năm 1053, nhà Tống cử Địch Thanh, một viên tướng giỏi, nhiều kinh nghiệm chiến trường làm Tuyên phủ sứ đi đánh Trí Cao. Trước tình thế đó, Trí Cao sai người về triều đình nhà Lý cầu viện. Vừa muốn kiềm chế quân Tống, và muốn giúp Trí Cao với ý định để sau đó Trí Cao lại giúp quản lý và bảo vệ vùng biên viễn, vua Lý Thái Tông lập tức sai chỉ huy sứ là tướng Vũ Nhị đem quân để ứng cứu Nùng Trí Cao. Nhưng tình thế đã đến lúc không thể cứu vãn nổi, Trí Cao bại trận chạy về nước Đại Lý (Vân Nam) sau đó bị sát hại.

Thương xót Nùng Trí Cao, vua Lý truyền cho nhân dân lập đền thờ ở động Tượng Cần, lưng chừng núi Kỳ Sầm - nơi Nùng Trí Cao cất giấu ấn Đô tướng của vua Lý ban và truy phong Nùng Trí Cao danh hiệu Khâu Sầm Đại vương (vua lớn của núi Khâu Sầm). Đây là một ân điển rất đặc biệt của nhà Lý dành cho Nùng Trí Cao.

 Cuộc nổi dậy của họ Nùng ở Quảng Nguyên cho thấy Trí Cao đã chống phong kiến nhà Tống là chính. Triều đình nhà Lý luôn muốn những mâu thuẫn của các dân tộc ở biên giới hướng về nhà Tống, để ngăn trở sự bành trướng của nhà Tống xuống phía Nam. Nhưng trên đất nước Đại Cồ Việt dù ở thời thịnh trị huy hoàng, mầm mống của nạn cát cứ cũng không dễ gì bị triệt thoái. Bởi vậy, nhà Lý luôn cảnh giác đề phòng trước những dấu hiệu bất thường.

Bằng chính sách nội trị đặc biệt, lúc cương, lúc nhu, cực kỳ khéo léo. Cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao ở thời Lý đã để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử cho thấy sự uyển chuyển khi áp dụng chính sách nhu viễn của triều đình nhà Lý. Sự phức tạp trong quan hệ “tay ba” giữa nhà Lý, họ Nùng và nhà Tống cũng chi phối đến việc thi hành chính sách này.

Sự kiện Trí Cao chứng tỏ ý chí quật cường của các dân tộc vùng cao chống lại ách áp bức bóc lột của các thế lực phong kiến thống trị. Dưới sự lãnh đạo tài tình của triều đình nhà Lý, được sự ủng hộ của các dân tộc Tày, Nùng và cũng chính họ đã có đóng góp đáng kể vào công cuộc giữ nước của Đại Cồ Việt, qua đó càng khẳng định rõ vai trò quan trọng của các dân tộc thiểu số ở vùng biên viễn xa xôi, không chỉ trong quá khứ lịch sử mà cho cả sau này. 

Đinh Ngọc Viện

caytuyet re

dailien

tacnghiep re