Trung Nguyên's Blog

Fri09202019

Last update02:00:07

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel
Back LỊCH SỬ Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 9)

Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 9)

Bài 9: Nùng Tông Đản với cuộc chiến “Tiên phát chế nhân” cùng Lý Thường Kiệt chống quân Tống xâm lược

Nhà Tống bị thất bại trong cuộc xâm lược Đại Cồ Việt năm 981, nhưng vẫn nuôi ý đồ bành trướng xuống phương Nam. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược mới, nhà Tống ra sức dụ dỗ các tù trưởng dọc biên giới phía Bắc của nước ta, nhưng không được nên do dự chưa cất quân.

Phố Tông Đản, quận Hoàn Kiếm (Hà Nội). Ảnh: Internet

Một phần nữa là vào thế kỷ XI là thời kỳ triều nhà Lý đang hưng thịnh, nên mặc dù triều đình nhà Tống đã chuẩn bị khá lâu và quyết định xâm lược Đại Việt, nhưng vẫn còn do dự. Nhân cơ hội đó, Lý Thường Kiệt đã tập hợp nhiều quân ở biên giới và muốn đánh vào đất Tống nhằm chống phá âm mưu của chúng. Để bảo đảm thắng lợi, Lý Thường Kiệt thấy rằng cần phải có sự liên kết, ủng hộ của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số đang trấn giữ ở biên giới thì kế hoạch mới thành công.

Châu Quảng Nguyên (Cao Bằng ngày nay) là một yếu địa. Có tướng cầm quân trấn giữ là Nùng Tông Đản và Lưu Kỷ đều là những thủ lĩnh giỏi của các dân tộc ở Quảng Nguyên làm “quan sát viên” của triều Lý ở miền biên viễn này, thường qua lại các khê động lấy cớ vừa mua ngựa vừa để do thám tình hình. 

Tháng 4 nhuận năm 1075, Lưu Kỷ đem 3.000 quân sang đánh đất Ung Châu, gặp Nùng Trí Hội (con Nùng Trí Cao) và con là Tiên An đang ở đất Tống chống lại. Lưu Kỷ bèn lui quân về. Đây chỉ là một cuộc xung đột địa phương giữa hai viên tướng, nhưng nhà Tống muốn nhân cơ hội này giúp Trí Hội đánh lại Lưu Kỷ để gây thanh thế ở phía nam biên thùy một cách khôn khéo. Quân Tống càng được dịp sửa soạn chiến tranh. 

Trước tình thế cấp bách, Lý Thường Kiệt đã dùng chiến thuật “tiên phát chế nhân”, quyết tâm tấn công trước để phá tan mưu mô của nhà Tống. Nhà Lý đã liên kết, phủ dụ các tù trưởng và quân dân các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc để phối hợp chống giặc, đó là tù trưởng họ Nùng ở châu Quảng Nguyên, họ Thân ở Lạng Châu...

Mục tiêu được Lý Thường Kiệt lựa chọn là tấn công thành Ung Châu (Nam Ninh) bên sông Uất Giang và các châu Khâm, Liêm. Lý Thường Kiệt tập trung quân hạ du ở Vĩnh An và quân thượng du ở dọc biên thùy tại các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu. 

Quảng  Nguyên là một trong ba đường tiến quân trong kế hoạch của Lý Thường Kiệt, đó là đi từ Quảng Nguyên theo bờ Tả Giang, rồi qua trại Thái Bình. Trong lần xuất chinh sang Tống, Lý Thường Kiệt đã được đội quân do Nùng Tông Đản lãnh đạo hợp sức cùng đánh.

Sau hai trận đánh của đạo quân Lưu Kỷ và Nùng Tông Đản tấn công vào các khê động của nhà Tống, nơi giáp ranh với nước ta là Tả Giang và Hữu Giang, phần lớn  tù trưởng các khê động ấy đều hàng phục, theo quân Nùng Tông Đản, Lưu Kỷ nổi lên đánh quân Tống.

Trước khi tấn công sang Ung Châu, Lý Thường Kiệt đã nghiên cứu kỹ địa hình và giao thông vùng Đông Bắc để bày thế trận lợi hại nhằm đánh kiềm chế, tiêu hao rồi chặn đứng các mũi tiến công của bộ binh địch. Các đường tiến công của địch đều phải đi qua các vùng dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng. Lý Thường Kiệt giao cho đội quân của các dân tộc thiểu số do các tù trưởng của họ chỉ huy, lợi dụng địa hình đón đánh các mũi tiến công của địch.

Đến tháng 9/1075, cuộc tấn công thực sự bắt đầu. Trong trận tập kích này, Lý Thường Kiệt đã huy động hơn 10 vạn quân thủy và quân bộ. Thủy quân do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy. Lý Thường Kiệt mưu tính chiến lược rất kỹ lưỡng. Thổ binh đóng ở vùng biên giới các châu Quảng Nguyên, Môn, Quang Lang, Tô Mậu sẽ lần lượt kéo vào đất Tống, quấy rối biên thùy làm cho quân Tống lầm tưởng là binh của ta sẽ theo đường bộ kéo vào thành Ung Châu. Trong khi đó, quân ta lần lượt phá các trại Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Cổ Vạn.

Trên bộ, quân ta tập trung ở dọc biên thùy, lực lượng chủ yếu là quân lính các dân tộc thiểu số do các tù trưởng Nùng Tông Đản, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An chỉ huy. Phụ trách chung là Nùng Tông Đản. Bộ binh tập trung ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn, Quang Lang, Tô Mậu.

Tháng Giêng năm 1076, Nùng Tông Đản chỉ huy quân tấn công bao vây, Tri Châu, Tô Giám chống giữ không nổi phải tự vẫn. Sau hơn 42 ngày đêm vây thành, ngày 23 tháng Giêng năm 1076 (tức ngày 1/3/1076), quân Lý Thường Kiệt chiếm được thành Ung Châu.

Chiếm giữ thành Ung Châu một thời gian, Lý Thường Kiệt cho rút quân ra khỏi đất Tống vì nếu đại quân Tống tiến gấp sang xâm lược sẽ qua vùng khê động vào thẳng các châu Quảng Nguyên, Môn, Lạng, Tô Mậu, trong khi quân ta còn đang ở Ung Châu có thể đối phó không kịp.
Như vậy, nhân dân Cao Bằng đã góp phần quan trọng (sức người, sức của) vào đại thắng của Lý Thường Kiệt trên đất Tống, bảo vệ vững chắc biên cương, góp phần đánh phá âm mưu xâm lược của nhà Tống, tạm thời hòa hoãn để triều đình có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến chống Tống thắng lợi.

Đinh Ngọc Viện

caytuyet re

tacnghiep re