Trung Nguyên's Blog

Fri09202019

Last update01:09:25

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel
Back LỊCH SỬ Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 13)

Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 13)

Bài 13: Bế Khắc Thiệu vi vương, Nông Đắc Thái vi thần cùng Lê Lợi chống quân Minh xâm lược
 
Bế Khắc Thiệu vốn họ Nguyễn, người Tống Sơn phủ, Thanh Hóa trấn, xuất thân dòng dõi Nho học. Từ Thanh Hóa, tằng tổ của ông đến thị tứ Áng Mò thuộc xã Bác Khê, tổng Xuất Tính, châu Thạch Lâm, đất Cao Bằng (thường gọi là Quảng Nguyên) trọ ở nhà họ Bế thuộc dòng họ lớn nhất vùng, danh môn hào kiệt. Gặp cảnh sơn thủy hữu tình, dân chúng ham học..., chàng trai Thanh Hóa nhận lời ở lại làm thầy đồ dạy chữ Nho cho học trò ở xã Bác Khê. Được người trong vùng mến tài, mến nết, ông trở thành con rể nhà họ Bế. Theo phong tục người Tày, con trai lấy vợ, thừa hưởng gia tài bên vợ thì phải lấy tên họ vợ trước tên họ mình, do đó mới có tên họ mới là Bế Nguyễn.
Núi Khắc Thiệu nằm trên địa phận giáp ranh 2 xã Hoàng Tung, Hồng Việt (Hòa An) mang tên Bế Khắc Thiệu.
 
Các thế hệ tiếp theo đổi dần ra nhiều chi nhánh thành họ Bế Khắc, Bế Hựu, Bế Văn, Bế Ích... hoặc chỉ mang họ Bế không có chữ đệm giữa họ và tên. Trong dòng họ Bế có một chi phát triển lên Phù Đúng, tổng Phù Đúng, châu Thạch Lâm. Họ Bế dừng lại ở Nà Trá (Hà Quảng)..., Bế Khắc Thiệu được sinh ra và lớn lên ở đây. 
 
Bế Khắc Thiệu trở thành một hào trưởng giàu có, thích làm việc thiện nên được mọi người rất mến mộ. Ông giao du, kết bạn với nhiều người. Khi về Phúc Tăng, Bế Khắc Thiệu gặp Nông Đắc Thái, cũng là một hào trưởng giỏi võ nghệ, có tài bắn cung trăm phát trăm trúng, ở làng Nà Giưởng, tổng Nhượng Bạn. Qua vài lần tiếp xúc, hai người ý hợp tâm đầu, kết nghĩa làm anh em và cùng nuôi chí hướng đánh đuổi quân Minh xâm lược.

Tháng 9/1407, một đạo quân Minh do Đô đốc Cao Sĩ Văn tiến lên châu Quảng Nguyên và chiếm đóng được thành Na Lữ, tiến hành đặt nền thống trị ở đây. Dọc các đường giao thông thuận lợi và các khu vực đông dân như Bác Khê, Gia Cung, Vu Thủy (Đống Lân), Háng Quang, Cốc Chủ... (Quảng Nguyên), Cô Sầu (thuộc Thượng Tư Lang)... quân Minh đặt các đồn sở, tiến hành trấn áp và bóc lột người dân địa phương bằng nhiều thủ đoạn tàn bạo và thâm độc. 

Khoảng tháng 9/1407, Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái tổ chức cuộc đi săn về phía Nam và về thăm họ hàng quê gốc họ Bế ở Bác Khê. Khi tới gần Bác Khê, Bế Khắc Thiệu phát hiện có cờ xí của quân Minh. Bế Khắc Thiệu cùng Nông Đắc Thái đóng giả là người trong họ về thăm quê cũ để trực tiếp thăm dò tình hình của giặc, đồng thời lập phương án tấn công chúng. Cuối cùng Cao Sĩ Văn và đoàn quân bị giết gần hết, chỉ còn vài tên tiêu binh (lính canh) trốn thoát.

Ngày mùng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (tức ngày 7/2/1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa). Hào trưởng Bế Khắc Thiệu đã lặn lội vào Lam Sơn ứng nghĩa, sau đó, ông được Lê Lợi cử trở về quê hương xây dựng lực lượng chống quân Minh và làm hậu thuẫn cho cuộc khởi nghĩa. Về đến Cao Bằng, Bế Khắc Thiệu đã kêu gọi nghĩa dũng tổ chức thành một đội quân hùng hậu. Ông cho xây thành đắp lũy, triệu tập nghĩa quân bảo vệ dân, tổ chức các trận đánh quân Minh ngay trên địa bàn. Cuộc khởi nghĩa của Bế Khắc Thiệu trở thành một bộ phận quan trọng trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV.

Bế Khắc Thiệu cùng Nông Đắc Thái kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Bế Khắc Thiệu được suy tôn làm chủ tướng, Nông Đắc Thái làm phó tướng đắc lực. Nghĩa quân xây dựng đồn luỹ ở núi Khau Thước, nơi núi non trùng điệp, khi cần có thể lui về cố thủ trên dãy núi Phúc Tăng (thuộc tổng Nhượng Bạn).
 Khi Bế Khắc Thiệu chiêu mộ nghĩa quân, thanh niên các nơi kéo về tấp nập, mang theo thóc gạo để góp quân lương. Nghĩa quân ngày đêm xây thành đắp lũy, san đồi trên đỉnh núi Khau Thước.

Để gây thanh thế, nghĩa quân dựng một ngọn cờ đại nghĩa ở giữa có một chữ Bế, với khẩu hiệu “Khắc Thiệu vi vương”, “Đắc Thái vi thần”. Mục đích chính của cuộc khởi nghĩa là chống giặc Minh xâm lược, bảo vệ nhân dân làng bản. Trong thành, nghĩa quân bố trí một lực lượng đủ mạnh do Bế Khắc Thiệu chỉ huy, có thể chống trả được quân địch khi chúng bao vây và tấn công. Một bộ phận lớn nghĩa quân do Nông Đắc Thái chỉ huy được chia thành nhiều nhóm nhỏ 20 - 30 người, ở lẫn với dân trong các xóm làng xung quanh thủ phủ, nơi địch đóng quân. Các nhóm nghĩa quân này vừa cùng với dân sản xuất nông nghiệp vừa bảo vệ nhân dân và thường xuyên tổ chức cung cấp lương thực cho nghĩa quân trong thành trên núi Khau Thước.

Nhiều nhóm nghĩa quân đã phục kích chiến đấu ngoan cường, đánh cho chúng phải tháo chạy về đồn sở. Sau nhiều trận bị nghĩa quân phục kích ở Kế Nông, Xuân Lĩnh, Thạch Môn, Thọ Cương, khiến quân Minh không dám bén mảng tới.

Trong thời gian Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái khởi nghĩa ở Quảng Nguyên thì ở Lạng Sơn cũng nổ ra cuộc nổi dậy của Nông Văn Lịch. Nông Văn Lịch đã từng lên Quảng Nguyên gặp gỡ Bế Khắc Thiệu liên kết cùng chiến đấu, học hỏi kinh nghiệm tác chiến với quân Minh. Năm Giáp Thìn (1424), một cánh quân của Lê Lợi lên hoạt động ở phủ Lạng Sơn (trong đó có Quảng Nguyên - tức Cao Bằng). Đại diện của nghĩa quân Lam Sơn cũng được mời lên thành Khau Thước cùng Bế Khắc Thiệu đàm đạo. Như vậy, từ một đạo quân hoạt động đơn lẻ trên vùng rừng núi phía Bắc, đến năm 1424, nghĩa quân của Bế Khắc Thiệu đã có mối liên hệ chặt chẽ nghĩa quân Lam Sơn và trở thành một bộ phận trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV.

Lúc này, quân Minh lập được một vệ (5.000 quân) đóng ở thành Na Lữ và nhiều nơi. Tuy nhiên, cũng như ở khắp nơi, thời kỳ này, quân Minh lâm vào thế túng quẫn do thiếu thốn lương thực trầm trọng. Quân Minh ở Cao Bằng túng thế nên muốn thương lượng với nghĩa quân Bế Khắc Thiệu. Chúng cử người đi từ thành Na Lữ lên thành Khau Thước xin giảng hoà nhưng Bế Khắc Thiệu từ chối và nói: "lối thoát duy nhất lúc này của quân Minh là rút về nước". 

Lợi dụng tình trạng nguy khốn của quân Minh, Bế Khắc Thiệu chỉ huy nghĩa quân đánh vào đồn sở của chúng đóng ở Đống Lân (Vu Thủy). Quân Minh có hơn 1.000 quân ở Đống Lân nhưng chống cự không nổi, bị giết nhiều vô kể. Số sống sót chạy về thành Na Lữ ở  phía đông nam thành Khau Thước. Thừa thắng, Nông Đắc Thái chỉ huy nghĩa quân tấn công vào đồn Mục Mã (có một sở đóng hơn 1.000 quân). Biết tài chỉ huy và sự chiến đấu ngoan cường của Nông Đắc Thái, cùng khí thế dũng mãnh của nghĩa quân, nên quân Minh không dám chống cự mà mở cổng thành chạy trốn sang bên kia biên giới.

Tại thành Na Lữ, mặc dù có một vệ quân giữ thành nhưng quân Minh thường án binh bất động. Tuy nhiên, chúng vẫn rắp tâm đánh chiếm thành Khau Thước của nghĩa quân. Một đêm tháng Tám năm Bính Ngọ (1426), giặc Minh do Đô đốc Trình Dương chỉ huy, hành quân sang phía tây (Kẻ Trặng) ngược lên phía bắc (Roòng Nguổc, Nà Vàn, Bản Hào, Nà Khuôn - ở phía tây đỉnh núi Khau Khiêu), rồi ở Nà Khuôn chúng theo khe lũng nhỏ Nà Khuổi từ phía bắc kéo xuống phía nam đánh úp vào phía sau thành Khau Thước.

Nhưng mọi dự tính của chúng đều bị quân ta biết trước. Nông Đắc Thái cho bố trí dày đặc quân mai phục ở rừng cây hai sườn núi Nà Khuổi. Khi quân Minh lọt hết vào trận địa phục kích, Nông Đắc Thái phát lệnh tấn công. Tất cả cung tên, giáo mác hướng cả về quân địch. Quân Minh phần lớn chết tại trận, số còn lại chạy tháo thân, không dám quay về thành Na Lữ. Trong trận này, quân Minh bị giết gần 4.000 tên. Cùng lúc ấy, Bế Khắc Thiệu chỉ huy nghĩa quân tấn công thành Na Lữ. 

Sau trận thắng lớn ở Nà Khuổi (tháng 9/1426), quân địch các đồn ở Cao Bằng đều chạy trốn hết. Cao Bằng được giải phóng. Bế Khắc Thiệu về lỵ sở xưng làm Châu mục. Nông Đắc Thái quản việc quân. Nhân dân châu Quảng Nguyên (tức vùng Cao Bằng) lại được trở về với cuộc sống thái bình.

Cuối năm 1427, quân Minh bị nghĩa quân Lam Sơn vây chặt ở thành Đông Quan. Các đạo viện binh đều bị chặn đánh ngay từ cửa ngõ biên giới. Trong thế cùng quẫn, Tổng binh Vương Thông đành phải nhận lời cùng Lê Lợi mở Hội thề Đông Quan, rút quân về nước. Sau 10 năm kháng chiến trường kỳ, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã giành thắng lợi trọn vẹn. Đất nước sạch bóng quân xâm lược. Trong thắng lợi chung của toàn dân tộc, đồng bào các dân tộc Cao Bằng đã góp phần công sức to lớn gắn với tên tuổi và sự nghiệp của hai vị tướng, hai vị anh hùng của quê hương Cao Bằng là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái. 

Đinh Ngọc Viện

caytuyet re

tacnghiep re