Trung Nguyên's Blog

Wed10232019

Last update23:57:30

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel
Back LỊCH SỬ Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 16)

Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay (Bài 16)

Bài 16: Kinh đô và thành cổ nhà Mạc ở Cao Bằng

Thời kỳ nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, để phòng bị quân nhà Lê tiến đánh, nhà Mạc đã tu bổ, sửa chữa thành Na Lữ (nay thuộc xã Hoàng Tung, Hòa An) và thành Bản Phủ (nay thuộc xã Hưng Đạo, Thành phố), thành Phục Hòa, ngoài ra còn xây dựng nhiều thành lũy khác ở Cao Bằng, làm cho Cao Bằng trở thành một trung tâm chính trị và quân sự ở vùng biên viễn Đông Bắc thời bấy giờ.

Dấu tích thành nhà Mạc ở thị trấn Hòa Thuận (Phục Hòa). Ảnh: Đàm Diện

Thành Na Lữ và thành Phục Hoà là hai thành được xây dựng từ trước. Theo ghi chép của Bế Hựu Cung trong Cao Bằng thực lục, thành Na Lữ và thành Phục Hòa mở đầu từ đời Đường Ý Tông năm Giáp Thân, niên hiệu Hàm Thông thứ 5 (874). Nhà Đường giao cho Kiêu Vệ tướng quân Cao Biền làm đô hộ An Nam, kiêm chức Tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ. Năm Bính Tuất niên hiệu Hàm Thông thứ 7 (876), nhà Đường ban cho Cao Biền chức Tĩnh Hải quân tiết trấn, kiêm chư đạo hành doanh Chiêu thảo sứ. Tháng 11 cho xây thành Đại La (Hà Nội), lại lệnh cho xây hai thành Na Lữ và thành Phục Hoà. Căn cứ vào sự hiện diện của nhiều ngôi mộ cổ có đá khắc ghi bia mộ tên, địa chỉ, quê quán những người phu dịch xây thành chết ở đây từ thời Hàm Thông có thể khẳng định hai thành này xây từ đời Đường.

Sách Cao Bằng sự tích của Nguyễn Đức Nhã, làm quan thời Pháp ở Cao Bằng (viết năm 1890), có đoạn chép: “Trong hạt có hai thành là thành Phục Hòa ở địa phận xã Phục Hòa, thành Na Lữ ở Thạch Lâm, xây dựng khoảng năm Hàm Thông đời Đường Ý Tông, lúc Cao Biền làm An phủ sứ đô hộ”.

Thành Na Lữ được xây qua nhiều triều đại khác nhau. Khi nhà Mạc lên Cao Bằng đã cho xây lại bằng gạch. Thành Na Lữ có hình gần chữ nhật, có tổng diện tích khoảng 37,5 ha, chiều dài khoảng 800 m, chiều rộng khoảng 600 m, thành có 4 cửa.

Thành Bản Phủ tại kinh đô Nam Bình, nước Nam Cương của Thục Phán khi xưa ở Cao Bình (Cao Bằng), nhà Mạc đã tu bổ thành Vương phủ tại vòng trong của kinh đô cũ Nam Bình và được gọi là thành Bản Phủ hay Vương phủ. Năm 1845, trong Cao Bằng ký lược, Phạm An Phú đã viết “nay trên đất Vu Thủy hãy còn các tên Hoa Viên, Liên Trì, Xứ Bắc… đó là chỗ  cũ của họ Mạc” hay “phố Cao Bình, tức chỗ cũ của họ Mạc”, những điều đó và qua bài thơ khắc trên chuông lớn của chùa Viên Minh càng thấy rõ việc nhà Mạc đóng Vương phủ tại nơi này. 

Tại kinh đô Nam Bình xưa của nước Nam Cương và của nhà Mạc, thành Bản Phủ vẫn còn dấu tích khá rõ nét. Kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, để bảo vệ kinh thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km, gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường thành, thuận lợi cho việc xây dựng phòng tuyến bảo vệ. Bờ thành phía Tây chạy song song với bờ sông Bằng đến đầu làng Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chảy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc lộ 4, phía Đông Bắc chạy theo chân đồi sát phía ngoài quốc lộ 4, lên đến Đầu gò là phía Tây Bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía Tây tạo thành một vòng thành khép kín.

Khi nhà Mạc lên đóng đô đã tu sửa lại và xây dựng thêm một số công trình, trong đó thành Bản Phủ (thành nội - nơi của vua làm việc) được xây lên cao hơn trên các tường thành cũ từ thời kỳ Thục Phán, thành nằm trên một khu đất bằng phẳng. 

Cùng với việc xây dựng lại kinh thành, nhà Mạc còn xây dựng một hệ thống đồn bốt, thành lũy khá dày xung quanh kinh đô và một số điểm biên giới quan trọng, tạo thành một hệ thống bảo vệ kinh thành và bảo vệ biên giới. 

Trong thời gian ở Cao Bằng, nhà Mạc không chỉ tu bổ sửa chữa thành Na Lữ, thành Bản Phủ mà còn tu bổ hoặc xây dựng các thành khác tại các vùng hậu cứ để phòng khi có biến như thành Lũng Hoàng, xã Hồng Việt (Hòa An) được xây dựng trên lũng Hoàng thuộc dãy núi Lam Sơn hùng vĩ và hiểm yếu, đến nay tường thành vẫn còn khá rõ. 

Thành Phục Hòa (huyện Phục Hoà) được xây theo kiểu hình vuông, mỗi chiều khoảng 400 m,  gồm hai vòng thành, khoảng cách giữa hai vòng là 80 m. Hiện nay, tường thành phía Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. 

Thành Phục Hòa có 2 cổng chính: Cổng phía Bắc được mở thông ra quốc lộ đi Cửa khẩu Tà Lùng ngày nay, nhân dân thường gọi là Pác Cổng, cổng này được xây theo kiểu hình chữ nhật, rộng 8 m, cao 5 m, gồm hai cánh cổng làm bằng gỗ nghiến dày rất chắc chắn; cổng thứ hai ở phía Nam, mở thông ra bờ sông. Cả hai cổng  đều bị san phẳng từ lâu, hiện nay không còn vết tích. Gần thành, tại phía Tây Bắc ngoại thành dọc bờ sông còn có nhiều vết tích lò nung gạch, nhân dân cho biết trong quá trình lao động, khai phá đã tìm thấy ở khu vực này nhiều lò gạch còn nguyên vẹn. 

Thành cổ Phục Hòa có thể nói là cửa ải ở biên giới, từ thành này, ông cha ta đã ngăn chặn bước tiến của quân phương Bắc xâm lược. Hiện nay, xung quanh vùng này  còn nhiều truyền thuyết, giai thoại về các trận đánh của quân và dân ta chống lại các cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc. 

Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại Cao Bằng, nhà Mạc đã tu bổ, tôn tạo và xây dựng thêm nhiều thành, đồn luỹ, trong đó tu bổ, tôn tạo xây lại thành Bản Phủ, thành Na Lữ, thành Phục Hoà; xây dựng mới các  thành Lũng Hoàng, Lũng Dẻ, Lũng Tàn, Lũng Pảng, Bản Sát và các đồn luỹ: Háng Quang, Vò Bây, Vò Đuổn, Khau Lừa, Nà Bưa, Khâu Đồn, Khuổi Diển, Pha Mò, Khau Liêu, Bằng Ca, chiến luỹ Sông Mãng, chiến luỹ Khắc Thiệu.

Các đồn luỹ này đã tạo thành một hệ thống liên hoàn bảo vệ kinh thành khá vững chắc. Chính vì có hệ thống đồn bốt này, năm 1677, quân nhà Lê khi lên đánh nhà Mạc phải mất mấy tháng mới vượt được sông Bằng mà tiến vào đánh thành Bản Phủ, nhà Mạc phải sang thành Na Lữ, sau đó lại lên thành Lũng Hoàng trên núi Lam Sơn được một thời gian, quan quân nhà Mạc mới bí mật đi xuống thành Phục Hòa cố thủ thêm nhiều năm, đến năm 1683 mới chấm dứt hẳn hoạt động triều chính ở Cao Bằng...

Đến nay, những thành cổ nhà Mạc xây dựng thời kỳ đóng đô ở Cao Bằng,  một số thành xây dựng bằng đất chỉ còn vết tích, nhưng các thành được xây bằng đá vẫn còn rất rõ. Dù đã đi vào lịch sử mấy trăm năm, song kinh đô và các thành cổ này, vẫn còn những giá trị lớn lao để nghiên cứu về mặt lịch sử và các mặt khác như kinh tế, văn hóa, nghệ thuật quân sự... qua các giai đoạn lịch sử, không chỉ của địa phương mà cả Trung ương. Vì vậy cần phải tiếp tục nghiên cứu đầy đủ để góp phần tôn tạo, bảo vệ và phát huy giá trị di tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đinh Ngọc Viện

caytuyet re

dailien

tacnghiep re