Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Bạn đang xem: VĂN HÓA Tản mạn địa danh Cao Bằng

Tản mạn địa danh Cao Bằng

Thoáng nghe về các địa danh ở Cao Bằng, bỗng dưng gieo vào lòng tôi câu hỏi: Tại sao người ta đặt tên như vậy? Xuất xứ địa danh? Nội dung ẩn chứa trong từng địa danh là gì? Ở đây tồn tại một nghịch lý là, rất nhiều địa danh thân thiết từng được gọi quen thuộc hằng ngày, thậm chí đã đi vào thi ca, âm nhạc, thản nhiên sống trong lòng xã hội mà ta không hiểu nó. Phải chăng, vấn đề quan trọng cần được quan tâm nghiên cứu ấy, bấy lâu nay vẫn còn bỏ ngỏ.      

Tản mạn địa danh Cao Bằng

Địa danh tỉnh ta rất phong phú, đa dạng, cho đến nay, có trên 2.400 tên làng, tổ dân phố, 199 tên xã, phường, thị trấn và 13 tên huyện, thị, chưa kể đến vô vàn tên núi, sông, ruộng, đồng... Các địa danh gắn liền với quá trình phát triển lịch sử của loài người, nên số lượng dày lên theo năm tháng. Địa danh được đặt theo các yếu tố tự nhiên, mang tính tự nhiên bởi  thiên nhiên luôn gắn bó và chở che con người từ thời bình minh của lịch sử. Khi tiếp xúc với tự nhiên, người ta dựa vào các yếu tố tự nhiên để đặt tên,  có lẽ loại địa danh này là xưa nhất, lâu đời nhất. Chẳng hạn, về núi: Phja Đin, có thể hiểu theo ngôn ngữ Tày, Nùng mà phiên ra tiếng phổ thông là “núi đất”, cũng tương tự như vậy: Phia Bjoóc (núi hoa), Phja Đeng (núi đỏ), Phja Moóc (núi có sương mù)... Về sông: Tả Lùng (sông cả)... Về ruộng: Nà Tấu (ruộng có nhiều rùa), Nà Đưa (ruộng có cây sung), Nà Pja (ruộng cá), Nà Nu (ruộng có nhiều chuột), Nà Lẹng (ruộng khô), Nà Rả (ruộng thụt lầy), Phja Bó (núi có mỏ nước), Nà Thin (ruộng có nhiều đá)... Những địa danh này còn được đặt cho làng, xóm, như: làng Phja Bó, làng Nà Thin... Ngẫm lại đều thấy đúng theo nghĩa thực của ngôn ngữ dân tộc, làng có núi xung quanh, có nguồn nước ngầm từ chân núi chảy ra quanh năm nên được đặt tên là Phja Bó; làng có cánh đồng rất nhiều đá lô nhô giữa ruộng là làng Nà Thin. Tuy nhiên, đó là cách hiểu theo nghĩa đơn giản, chưa chắc giải nghĩa đã đúng, đủ; hơn nữa, nhiều tên gọi mang tính tự nhiên ta không thể phán đoán, giải mã được, chẳng hạn: Khau Liêu, Khau Mòn, Khau Chỉa, Khau Giáng...

Địa danh  mang tính xã hội gắn liền cuộc sống con người theo chiều dài lịch sử. Trước hết là loại địa danh gắn liền với lao động, sản xuất. Con người muốn sinh tồn và phát triển thì phải dùng sức mình tác động vào tự nhiên, cải tạo thiên nhiên để phục vụ cuộc sống của mình, trong mối quan hệ tương hỗ giữa tự nhiên và xã hội. Quá trình đó đã xuất hiện những tên, như: làng Nà Gọn (làng có ruộng và nhiều guồng nước), làng Bản Dốc (bản có nghề làm cối đá giã gạo), làng Nà Mu (làng nuôi nhiều lợn), làng Phjắc Cát (làng trồng nhiều rau cải), làng Nà Mằn (làng trồng nhiều khoai lang), làng Nà Mò (làng nuôi nhiều bò)...

Địa danh gắn với các câu chuyện có thật, các truyền thuyết, sự kiện lịch sử diễn ra, các nhân vật lịch sử xa xưa: Vỏ Ngàn, Vò Đuổn, Vò Đáo, Pò Tao, đồi Bế Khắc Thiệu, núi Kỳ Sầm, đèo Mã Phục, đèo Mã Quỷnh...

Trong thời kỳ cách mạng, đã xuất hiện loại địa danh là tên các chiến sĩ yêu nước trung kiên, như: xã Hồng Việt, Chí Viễn, Hoàng Tung, Chí Thảo, Phong Châu, Đình Phong, Hồng Định... Nhóm này khá phổ biến, kể cả đặt tên cho các huyện.

Như vậy, địa danh gắn liền với sử danh, những tên gọi nêu trên còn nhiều ẩn ý, chưa được khám phá, nhiều người chưa biết đến hoặc được hiểu theo cách suy diễn, chưa thống nhất do nhận thức mỗi người khác nhau.

Mới tiếp cận nghiên cứu về địa danh Cao Bằng, đã cho chúng ta nhận xét ban đầu lý thú về các đơn vị dân cư, hành chính: những đơn vị cơ sở như  làng, xóm thường được đặt tên theo các yếu tố tự nhiên, gắn với nền văn minh lúa nước, phổ biến các làng có chữ Nà (ruộng) là tiếp đầu ngữ của tên gọi. Từ cấp xã, phường, huyện đến tỉnh, hầu hết địa danh mang tên các nhân vật lịch sử có công với nước, các sự kiện lớn, tên gọi có tầm khái quát cao.

Đáng chú ý là hiện tại có những tên gọi không đúng theo ngữ nghĩa nguyên bản, có loại ý kiến cho rằng: nguyên nhân chính là do sự pha tạp ngôn ngữ Tày - Nùng và tiếng Việt nên phát âm có thể chệch đi. Đơn cử: ở xã Chí viễn (Trùng Khánh), xóm Đoỏng Luông, thực tế là làng nằm ngay cạnh chợ Pò Tấu trên mặt bằng không hề có núi đồi, chứ chưa nói đến đồi núi to. Qua điền dã, chúng tôi được các cụ ở vùng đó giải thích: Chính là Đông Long, thời nhà Mạc đặt tên, bằng chứng là xưa đây, trước làng có ao to trồng sen. Đông Long chính là con rồng phía Đông, cánh quân chủ lực nhà Mạc án ngữ ở đây. Khi sắp xếp qui hoạch làng bản, hiện tại bà con đã nhất trí gọi tên mới là xóm Đông Long. Hơn nữa, xóm Lũng Nọi (nơi phát hiện ra trống đồng), chính là Long Hội, nơi vua quan triều đình nhà Mạc chỉ huy. Làng ở đây không có thung lũng nào cả, là vùng đất bằng phẳng tựa vào thế núi cao đằng sau. So với Lũng Nọi thì Đông Long nằm ở phía đông. Gần đường về xã Đàm Thủy, theo hướng đông, có địa danh là Đông Mòn, thực ra theo lôgic đó, chính là Đông Môn, vì làng này nằm ngay biên giới, phải chăng là cửa ngõ phía đông của quốc gia. Hiện tại trên đường từ thị trấn Trùng Khánh về Pò Tấu còn có các địa danh: Đông Quan (có thể là nơi chôn cất một vị quan, trước đó dân còn thắp hương trong miếu thờ ở rừng này), Phja Chiêu (có thể là núi quan sát của quân ta từ thời Mạc; đến thời Pháp thuộc, quân đội Pháp lập đài quan sát, nay vẫn còn chứng tích), mà hướng quan sát rộng nhưng chủ yếu nhìn về phía Đông (Bản Giốc). Phja Quán (có thể là núi cao mà các quan quân nhà Mạc đến đó quan sát về hướng Bắc vượt tầm xã Đình Phong)...

Trải qua quá trình lịch sử cùng với sự giao thoa của các luồng văn hóa, nhất là văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, sự pha lẫn tiếng bản địa Tày, Nùng, Mông, Dao và các dân tộc khác đã làm biến âm địa danh. Do vậy, chúng ta cần có góc nhìn thấu đáo, khoa học về từng địa danh để hiểu đúng, đủ, chính xác bản chất của nó. Mới điểm qua một góc rất hẹp, còn tản mạn, điểm xuyết, chưa nói tới địa danh các vùng, miền theo ngôn ngữ dân tộc Mông, Dao, Sán chỉ, Lô Lô, Kinh, Hoa mà ta đã thấy quá nhiều phức tạp. Rõ ràng, địa danh ở Cao Bằng là một vấn đề cần phải quan tâm, nghiên cứu có hệ thống, cắt nghĩa thấu đáo, rõ ràng về từng địa danh, làm nên bộ sưu tập địa danh giá trị, có ý nghĩa như từ điển tra cứu, thiết thực bổ sung vào kho tàng văn hóa quí báu của các dân tộc tỉnh ta.

Lê Chí Thanh

Báo Cao Bằng

BÀI VIẾT LIÊN QUAN