Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Bạn đang xem: VĂN HÓA Chữ Nôm Tày chuyển tải tinh hoa tâm hồn Tày từ ngàn xưa

Chữ Nôm Tày chuyển tải tinh hoa tâm hồn Tày từ ngàn xưa

Những tinh hoa tâm hồn Tày được cha ông ta dùng chữ Nôm Tày ghi lại, lưu truyền đến hôm nay là những sản phẩm tinh thần có giá trị, không thể phủ nhận được. Trong bài viết này, tôi muốn tìm hiểu thêm một vầng sáng tinh hoa tâm hồn Tày độc đáo trong cuốn sách Lượn Thông Nông (do nhà văn, nhà nghiên cứu Dương Sách, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam sưu tầm. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc - 2005).
Nét đẹp truyền thống của người Tày Cao Bằng. Ảnh: Mông Văn Bốn

Trong cuốn Lượn Thông Nông có mười bài hát lượn của cha ông người Tày ta tự ngàn xưa, được lưu truyền lại bằng chữ Nôm Tày viết tay trên giấy bản, giờ đây đã được ghi lại bằng chữ latin Tày. Mỗi bài hát lượn Tày trong ấy là một vầng sáng tinh hoa tâm hồn Tày, rất độc đáo, bởi chúng mang sắc thái rất riêng của miền rừng heo hút. 

Lượn là một hình thức hát giao duyên trữ tình, mang tính cộng đồng cao của người Tày, thường được diễn ra mọi nơi mọi lúc trên miền núi. Bên nam bên nữ (hay bên chủ - bên khách) hát đối đáp với nhau tình tứ và hào hứng, có khi kéo dài suốt cả đêm ròng, cho đến ban mai mà vẫn còn vương vấn tơ lòng, bịn rịn vô cùng, chưa muốn rời tay. Và người ta có thể hát lượn với nhau trên đường đi chợ phiên, lượn giữa chủ với khách trong đêm nghỉ nhờ ở bản lạ, lượn giữa chợ phiên, lượn giữa những ngày hội xuân đông vui, bên nam, bên nữ thật đằm thắm, trữ tình…
 
Trong bài lượn “Lượn đuổi bạn dú kha tàng” (Lượn với bạn trên đường) toát lên nội dung trữ tình, say đắm của lứa đôi mang phong cách miền rừng, trong sáng lạc quan như ánh núi, không lẫn vào đâu được. Nó là sản phẩm tinh thần tinh tế riêng của lứa đôi miền núi. Khổ đầu của bài thơ là lời kể và miêu tả thật bình dị: “Noọng rèo tàng hơn tẩư khửn mà/Thâng nẩy rẩp lai vài thin xé/Nưa đán mì lình ké nòn ngài/Lình ón tèo nưa vài xa mác/Tua nổc ho ả pác tiểng van/Chùa căn hất rằng, an tềnh cáng/Quang nạn hênh hép rỏn nưa pù/Chang đông phấu nổc cu bân goạng”. Dịch: “Em đi theo đường núi lên non/Đến đây gặp nhiều triền đá sắc/Trên núi có khỉ lớn ngủ trưa/Khỉ trẻ nhảy trên cành tìm quả/Bồ chao cất tiếng hót ngọt ngào/Chúng cùng nhau vui xây tổ ấm/Hươu nai kêu khản giọng trên đồi/Trong rừng đàn chim cu bay lượn...”.
 
Ẩn sâu bên trong của những câu thơ mộc mạc ấy là một sự bàng hoàng, sửng sốt và chan chứa niềm vui phát ra tự tấm lòng trẻ trung sôi trào. Chao ôi, nơi này có một sự hoà hợp tuyệt đối thanh bình giữa con người với chim chóc và thú rừng… mà bất cứ nơi nào cũng phải mong ước. Và trong con mắt của nàng, thì nơi đây chính là cảnh tiên bồng tuyệt đẹp… bởi vì có chàng trai bên kia đồi hát vọng lại. Lời hát lượn của chàng và nàng có núi rừng điệp trùng và những con thú rừng dễ thương chứng kiến đấy nhé. Và Triệu Lam Châu nghĩ tiếp: Thời xưa lúc các cụ người Tày làm ra bài lượn kia, làm gì đã có khái niệm bảo vệ môi trường như đầu thế kỷ 21 này nhỉ? Có thể hồi ấy chưa có môn khoa học bảo vệ môi trường, nhưng tâm hồn nhân hậu của người Tày từ ngày xưa ấy, vốn coi chim chóc và thú rừng như những người bạn hiền của con người.
 
Tư tưởng nhân văn cao vời được toát ra từ những chiêm nghiệm máu thịt ấy về một bài lượn nhỏ nhoi của người Tày: “Rèo tàng noọng hơn tẩư khửn mà/Thâng nẩy rẩp vò phja hỏi bjoóc/Bjoóc nẩy bjoóc ca răng/Hom gừn vằn ngửt ngảo/Bjoóc nẩy bjoóc vẳc viền/Phông xiên niền bấu rởi/Mì bjoóc lẻ mì mèng/Te tò cheng tom nhị/Bjoóc phông lẻ mèng nhị bân mà/Hoa sán lẻ mừa phja goẹng dẳc”. Dịch: “Em đi theo đường núi lên non/Đến đây bạt ngàn rừng hoa thắm/Hoa này tên gì đây/Ngày đêm thơm ngào ngạt/Hoa đây tên vẳc viền/Nở ngàn năm tươi mãi/Có hoa thì có bướm/Chúng đua nhau hút nhuỵ/Hoa nở ngời - thì bướm tụ về/Hoa tàn cả núi đồi vắng ngắt”.
 
Nét tinh tế ngầm thể hiện tình cảm lứa đôi miền rừng trong khổ thơ này rất tuyệt vời. Tôi thấy người xưa của bất cứ dân tộc nào cũng rất tế nhị, nhất là trong việc thể hiện tình cảm lứa đôi. Họ tránh nói thẳng, trực diện kiểu như Anh yêu em lắm, như ngày nay! Bằng cách nói ví von vào những cảnh quan và sự vật thơ mộng đặc thù của miền rừng, họ đã thể hiện tình cảm bên trong của lòng mình. Đó là một ưu điểm lớn của khổ thơ này. Mạch cảm xúc trữ tình lứa đôi của bài thơ cứ dẫn ta đi đến đoạn kết độc đáo của tâm hồn miền rừng: “Vảng rà vần nậu bjoóc vẳc viền/Táng dú lế xiên niền vuồn vạ/Vảng noọng vần nậu bjoóc vẳc viền/Pỉ íp au mà ghiền chang hóm”. Dịch: “Nếu mình thành nụ hoa vẳc viền/Nơi đơn lẻ ngàn năm buồn quá/Nếu em thành nụ hoa vẳc viền/Anh xin hái, cất vào rương nhé!”.
 
Như vậy, chữ Nôm Tày, sáng tạo tuyệt vời của văn hóa Tày tự ngàn xưa ở miền biên cương phía bắc Tổ quốc - giờ đây cũng theo những vạt nắng hường của văn hóa Việt mà bay đến nơi đây và đậu vào một trong những tâm hồn Tày là tôi đang sống nơi đất khách quê người. Tôi thầm reo lên một mình bên biển lớn bằng tiếng Tày thiêng liêng của cha ông slư Nam (chữ gai - chữ Nôm) - mà như nghe thấy sóng biển chiều vọng lại tiếng lượn, sli từ miền Thông Nông xa thẳm...
 
Triệu Lam Châu

BÀI VIẾT LIÊN QUAN