Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog
Bạn đang xem: VĂN HÓA Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tang lễ của người Tày, Nùng

Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong tang lễ của người Tày, Nùng

Trong tang lễ của người Tày, Nùng ở Cao Bằng, thầy tào chủ yếu là xướng theo âm tiếng Quan Hỏa (Trung Quốc). Ngoài những phần thoại trình báo, cầu xin, niệm chú theo tư thế tự do ra, phần xướng ca và tụng kinh trong tang lễ chủ yếu theo thể thơ 4, 5, 7 chữ, cũng có chỗ 6 chữ, nhưng chủ yếu là thể thơ 4 chữ, gieo vần theo nhịp điệu, chữ thứ tư của dòng thứ nhất vần với chữ thứ tư của dòng thứ ba, thể thơ 7 chữ gieo vần chữ thứ 7 của dòng thứ ba vần với chữ thứ 7 của dòng thứ tư.

Thầy tào làm lễ trong tang lễ.

Thể thơ 7 chữ được sử dụng nhiều nhất trong xướng ca phần tế lễ, văn than; riêng ở phần than ly biệt thể thơ 7 chữ được xen với thể thơ 5 chữ: Bát âm tiễn mẹ giữa canh khuya/Đây là phút chia lìa/Chúc biệt mẹ sinh quên nỗi khổ/Đạo đưa về tiên tổ/Tử sinh hai ngả biệt âm dương.

Khi hành tang, tùy từng nội dung, từng phần mà thầy tào hành lễ với lời nói sao cho phù hợp, như khi trình báo, cầu xin, giọng thầy kính cẩn, cầu xin; khi chiêu hồn thì da diết, ngọt ngào; khi đuổi tà, tống khứ tam tai thì giọng dứt khoát, đanh thép; khi biệt ly, than thở thì giọng đầy bi ai tạo niềm xót thương cho người nghe.

Ngôn từ trong tang lễ rất giàu hình ảnh, có tính khái quát bằng cách nói ví von, tác giả dân gian nói lên công lao của người chết đối với con cháu, họ hàng với lòng tiếc thương vô hạn. Như khi nói về người phụ nữ mang thai không thể lường hết gian nan, tác giả dân gian chỉ dùng hai câu sau: Mẹ mang trong dạ phôi thai/Tựa đầu giường đặt quan tài. Khi miêu tả sự mệt mỏi của người phụ nữ khi mang thai: Hoài ba tháng mẹ héo mòn/Vàng vọt rã rời tựa nắm rơm/Trở đi trở lại người ê ẩm/Mỏi mệt chân tay nặng như chì/Tâm trí mơ màng người mỏi nhừ/Bước ra ngưỡng cửa người vàng mắt… /Tối tăm mặt mũi trời u ám/Ngàn cân sợi tóc tử cùng sinh. Khi sinh nở: Chau mày nghiến răng ruột đứt đoạn/Như tảng đá lớn buộc chân đây. Còn khi nuôi con, người mẹ hết lòng vì con: Bên khô dành con nằm thoải mái/Bên ướt mẹ dành để phần mình/Mỗi ngày bú mẹ ba lần sữa/Ba ngày chín bữa khí sinh nguyên/Mút lấy tinh lực mẹ đến lớn/Người mẹ héo hon tựa rơm vàng.

Hoặc khi tả cảnh về nơi an lạc ở tiên giới, người chết sẽ được thanh thản ở đó hưởng cảnh giàu sang phú quý: Ao sen đầy hương thơm/Lọng sen cho mây mù/Động tiên hiền hòa ảo/Ở mười hai tầng lầu. Tả cảnh con sông Nại Hà - ranh giới giữa bể khổ và miền cực lạc: Nại Hà tầng tầng sóng/Biển khổ trùng trùng ba.

Từ việc tả cảnh phong ba dữ dội của con sông Nại Hà ở cõi âm nhấn chìm những linh hồn tội lỗi, tác giả dân gian khuyên con người khi sống phải có nhân đức để khi chết hồn được thầy tào bắc cầu cho qua sông dễ dàng đến nơi an lạc: Dày công tích đức lương duyên tốt/Ai nấy cùng tu đạo phúc điền/Kiếp trước khéo tu nay kết quả/Trở về nay tới Đại La Thiên.

Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, trong tang lễ còn hình thức nói vần truyền thống của người Tày, Nùng hoặc sử dụng thành ngữ nói về quy luật đời người, như: Mì đét lẻ mì phân (có nắng thì có mưa); Slai đưa păn cần tỏn (dây rốn cùng chia đôi); Chếp tót nặm tha luây (đau đớn nước mắt tuôn). Còn nói về lúc sinh nở, mệnh người mẹ mong manh: Tha hăn phạ cặn muối ngà (Nhìn trời nhỏ tựa hạt vừng). Nói về nhân quả: Bấu rứn hạy ngòi nặm thang lầy/Tắc tắc tiểm tiểm bấu pây quây (Không tin hãy nhìn giọt tranh nhỏ/Tích ta tích tách chẳng sai chỗ). Nói về công lao cha mẹ đối với con cái: Lộc lào phja đán au răng slấng (Công lao như núi lấy chi cân).

Ngoài việc sử dụng ngôn từ giàu hình ảnh, trong tang lễ còn sử dụng điệp khúc hoặc những bài văn than, bài ly biệt… tạo cho các bài ca bi ai có sức truyền cảm. Trong “Quyển khoa tụng” có đoạn viết: Cứu khổ đưa vong về triều ngọc thanh/Kim đồng cầm gậy đón/Ngọc nữ vẫy hoa sen/Cùng đưa hồn người chết/Đến sống nơi thần tiên. “Mục Liên Kinh” với điệp khúc: Đại thánh hoài thai Mục Liên Kinh/Gái trai đưa tiễn mẹ về trời/Mẹ hỡi, mẹ lên thiên đường trú/Con tiễn mẹ về với tổ tông. Hoặc “Thập biệt khoa” viết: Chia lìa cha (mẹ) ta ngàn vạn năm, ngàn vạn năm/Nay cha (mẹ) không còn ở cõi trần/Chẳng thấy cha (mẹ) một lần. Còn “Ly đường khoa”: Cha (mẹ) ơi! Hôm nay dứt đoạn tình/Thiên đường khoái lạc hành/Không còn thấy cha (mẹ) hồi gia đình/Nước mắt tuôn rơi thành hàng/Cha (mẹ) ơi hỡi, biệt ly hành.

Ngôn từ trong tang lễ người Tày, Nùng sử dụng nhiều hình ảnh với các lối nói như: ca, tụng kinh, tự sự, đối thoại… vừa mang tính nghiêm trang, vừa trang trọng, bi ai, tạo cho không khí tang lễ có sự đồng cảm trước sự buồn thương, ly biệt của tang chủ.

Triệu Thị Mai (Báo Cao Bằng)
 
 
 
 

banner180x280