Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog

Trung Nguyên's Blog Trung Nguyên's Blog
Bạn đang xem: VĂN HÓA Bàn về xuất xứ chữ nôm Tày

Bàn về xuất xứ chữ nôm Tày

Chữ Nôm Tày một di sản văn hóa quý giá của nước ta, cùng với các loại văn tự khác đã lưu trữ nguồn tư liệu to lớn có giá trị về mọi mặt trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Cùng với các dân tộc khác, người Tày, Nùng đã sáng tạo và hoàn thiện dần chữ Nôm Tày hàng nghìn năm nay để làm văn tự dùng trong giao lưu và lưu trữ tư liệu. Đó là một thành tựu lớn của giới trí thức Tày, Nùng và cộng đồng trí sĩ Việt Nam góp phần làm giàu cho kho tàng văn hóa nước nhà.

Sách cổ viết bằng chữ Nôm Tày.

Người Tày, Nùng gọi chữ Nho (chữ Hán) là “chữ mực đen” (slư đăm), gồm: chữ Hán, các loại chữ Nôm: Tày, Nùng, Kinh, Ngạn, chữ Hán Dao… Chữ Nôm của các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Ngạn đều có cách kết cấu giống nhau, ghép theo phương pháp Lục thư của chữ Hán, là các cách: tượng hình, tượng thanh, hội í, giả tá, chuyển chú, chỉ sự. Nhưng chữ Nôm mang nặng tính tượng thanh, ít dùng tượng hình. Các loại chữ Nôm  tính định hình chuẩn thấp hơn chữ Hán. Vì là chữ của các tộc người chưa được các chính quyền phong kiến chú ý, tu chỉnh chuẩn hóa như chữ Hán, nên các loại chữ Nôm đều không thể dùng làm Quốc ngữ. Chữ Nôm các loại được dùng thịnh hành vào thế kỷ 18, 19, góp phần giúp các tộc người nước ta có chữ viết.

Lâu nay đã có nhiều học giả đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc họ chữ Nôm ở Việt Nam. Có người cho Nôm Việt (Nôm Kinh) có vào thời nhà Trần thế kỷ 13; Nôm Tày có từ khi nhà Mạc lên đóng đô ở Cao Bằng, do các nhà văn hóa Bế Văn Phụng và Nông Quỳnh Văn hợp tác khai sáng theo phép Nôm Kinh. Học giả Bế Huỳnh, quan huấn đạo Phủ Trùng Khánh cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cho rằng, chữ Nôm Tày có từ thời Sỹ Nhiếp thế kỷ 3, do học giả Lê Thế Khanh, ở Nhượng Bạn, Châu Thạch Lâm khai sáng đầu tiên để ghi chép các bài hát then tín ngưỡng, sau đó được hoàn thiện dần bởi các thế hệ kế tiếp. 

Khi chúng tôi khảo sát chữ Choang (Quảng Tây, Trung Quốc), tộc người cùng hệ ngôn ngữ Thái - Ca đai với người Tày, Nùng, thì chữ Nôm Tày có một số chữ chung với chữ Choang mà chữ Hán và chữ Nôm Kinh không có. Như chữ “Phia” (núi đá: viết chữ sơn trên, chữ ba dưới) những chữ đó là đặc hữu của người Tày, Nùng và người Choang.

Chữ Nôm là rõ ràng, trong đó các chữ Nôm và chữ Choang đều tuân thủ cấu tạo theo phép Lục thư và lấy chữ mẹ là chữ Hán làm nền, dựa trên âm Hán Việt (Chữ Choang dựa âm tiếng Quảng Châu). Việc sáng tạo các chữ phương ngữ của người Hán cũng diễn tiến tương tự, vì người Hán có tới chục nhóm phương ngữ không thể thông thoại với nhau. Trong khai sáng các chữ Nôm của nước ta và chữ Choang có liên hệ chặt chẽ và ảnh hưởng giao thoa qua lại. Nên luận cứ của Bế Huỳnh là có cơ sở (cho Nôm Việt và Nôm Ngạn), vì khi đã có chữ Hán thì các trí sĩ sẽ dựa vào đó tìm cách sáng tạo ra chữ phục vụ cho các tộc người, nên chữ Nôm Tày, Nùng, Ngạn, Việt xuất hiện vào đầu thiên niên kỷ 1 gần với sự xuất hiện chữ Hán là có sở cứ.

Việc phải tìm tác phẩm di cảo để làm căn cứ chứng minh nguồn gốc chữ Nôm sẽ không khả thi vì nước ta hàng nghìn năm Bắc thuộc và loạn ly liên miên thì di cảo tìm được là không đáng kể. Các loại chữ Nôm Việt Nam ngày nay rất ít người biết vì chúng ta đã có chữ Quốc ngữ rất tiện ích thay thế, nhưng việc bảo tồn di sản chữ Nôm là cần thiết để giữ gìn, khai thác kho di sản chữ Hán Nôm của nước nhà.

Nông Danh

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

 
 
 
 

banner180x280