Trung Nguyên's Blog

Sun08182019

Last update11:29:09

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel
Back VĂN HÓA Để tiếng Tày không mai một

Để tiếng Tày không mai một

Từ buổi bình minh của mình, trải qua không biết bao thế hệ, tiếng Tày luôn cùng tộc người Tày song hành trong cuộc mưu sinh. Tiếng Tày không thua kém một tiếng nói nào trên thế giới. Nó đủ độ phong phú và đa dạng để lột tả đến tận cùng mọi cung bậc tình cảm con người. Nhưng một thực trạng đáng buồn là hiện nay "tốc độ" tiếng Tày đang mai một ngày càng gia tăng đến mức báo động.

Nét đẹp truyền thống của người Tày Cao Bằng.

Thực tế là nhiều người trong lý lịch, hồ sơ khai là dân tộc Tày nhưng không hề biết tiếng Tày, mặc dù cả bố lẫn mẹ đều là người Tày. Và hiện nay đi về các vùng quê có nhiều người Tày sinh sống ở Cao Bằng, ta thấy ngay một thực tế là bố mẹ, ông bà đều dạy các con, cháu nói tiếng Việt mà quên nói bằng tiếng Tày. Họ lý giải, dạy tiếng Việt sớm để cho các cháu tiếp thu văn hóa Việt.

Trong nhiều năm qua, nhiều nhà thơ, nhà văn địa phương rất cố gắng trong việc gìn giữ tiếng Tày theo cách sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ, như: Hoàng Đức Hậu, Y Phương, Hoàng An, Hữu Tiến, Hà Ngọc Thắng, Ngô Lương Ngôn, Nông Đình Ngô... Những cố gắng đó của các tác giả đã góp phần gìn giữ tiếng Tày. Song trong sáng tác một số tác giả khi “bí” từ quá lại phải dùng tiếng Việt để thay thế, mà chưa tìm hiểu kỹ tiếng Tày gốc để dùng. Ví dụ: Khi viết thơ bằng tiếng Tày nói về mùa xuân, các tác giả hay dùng từ "mủa xuân". "Mủa xuân" không phải là tiếng Tày các cụ chúng ta dùng, mà là nói lái từ tiếng Việt sang. Các cụ xưa dùng từ “Rì chiêng” là mùa xuân, “Rì pôm” là mùa hạ... 

Dịch giả Hoàng An dịch Truyện Kiều có câu: "Lặp lè én vỏng nưa rườn/Mủa xuân pây đảy sloong bươn kỷ hoằn"(Ngày xuân con én đưa thoi/Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi). Ngoài sáu mươi tức hơn hai tháng có lẻ vài ngày. Dịch như vậy là quá sát, quá hay, quá đạt. Nhưng vẫn mắc phải chữ "Mủa xuân" nghe chưa Tày cho lắm. Nói như vậy vô tình ta lại mắc phải lối nói lái tiếng Việt sang Tày, tưởng Tày nhưng không phải Tày. Nếu dùng từ "Rì chiêng" ta nghe thử xem có được không? "Lặp lè én vỏng nưa rườn/Rì chiêng pây đảy sloong bươn kỷ hoằn"

Hay như lỗi khác hay mắc phải khi nói hoặc khi viết, như từ "địa phương" lại dịch ra Tày là "tỉ phuông" nghe thật ngô nghê. “Địa phương” là từ Hán Việt. Địa là đất, phương là một phương, một khu vực cụ thể. Tiếng Tày có từ “đin tỉ”. Như câu: Mâừ dú tỉ tâừ mà? (Mày ở địa phương nào về?). Hay: Đin tỉ huyện Hòa An mì lai cần tài giỏi (địa phương huyện Hòa An có nhiều người tài giỏi). Hay như tiếng Việt có câu "Nhớ thương da diết", tôi tin rằng đến 85% người Tày hiện nay không dịch nổi ra tiếng Tày của mình. "Da diết" biểu đạt một cung bậc tình cảm sâu nặng không phải riêng dân tộc nào. Tiếng Tày cũng vậy, cũng phong phú biết bao, cũng đa dạng vô cùng, cũng đủ để lột tả được mọi cung bậc tình cảm. Cho nên vẫn dịch ra rất hay từ "Nhớ thương da diết" ra tiếng Tày thành "Chứ điếp nắt nỉu". 

Người nước ngoài khi học tiếng Việt cho rằng: "Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam" thì tiếng Tày cũng vậy, phức tạp không kém. Mỗi địa phương, mỗi vùng miền tiếng Tày cũng khác nhau, mặc dù cũng biểu đạt một nội dung, nhưng không hiểu rõ phương ngữ sẽ sai một trời một vực. Quê tôi thuộc Trùng Khánh, chỉ làng trên làng dưới thôi mà phương ngữ đã khác nhau lắm rồi. Ví dụ "Tua cáy oóc say nưâ sạu" có nghĩa là “con gà đẻ trứng buổi sáng”, nhưng nếu nói là "Tua cáy oóc say nưâ sậu" thì nghĩa sẽ là “con gà đẻ trứng mỗi sáng một rổ”. Nhiều người khi dịch hoa đào ra tiếng Tày thành "bjoóc tào". “Bjoóc” thì phải, nhưng “tào” thì không, vô nghĩa, tối nghĩa. Các cụ xưa thường dùng “mác phăng” (quả đào), “bjoóc phăng” (hoa đào) thì hà cớ gì chúng ta dùng "bjoóc tào". 

Mất thì phải tìm mà giữ lại, chớ nên dùng lộn xộn, vô tình lại làm rắm rối thêm tiếng Tày, mất đi sự long lanh vốn có của nó. Một trường hợp nghe mới sượng làm sao: "Món này ngon quá" thì lại nói "món nẩy ngòn lai". "Ngòn" không phải là tiếng Tày mà bí quá thì nói lái đi thôi, mà đúng ra phải nói theo các cụ "Vè nẩy hoan lai". "Hoan" là ngon. “Kin hoan lai á” (Ăn ngon lắm á). Tiếng Tày có, sao ta không dùng cho đúng mà cứ đi vay mượn tiếng Việt nghe lai căng. Đã đến lúc chúng ta nhìn thẳng vào sự thật mà phê phán những người vô tình làm mất đi tiếng Tày bằng cách nói lái, viết lái từ tiếng Việt sang.

Tiếng Việt có câu tục ngữ: "Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây" thì tiếng Tày cũng có câu: "Kin nặm chứ cốc bó”, “Kin mác chứ cần chay". Đẹp lắm chứ, long lanh lắm chứ, tiếng Tày đâu có kém cỏi gì. Tiếng Tày có câu: "Cúa tin mừ nặm bó, cúa pỏ mẻ nặm noòng" thì tiếng Việt cũng có câu: "Của tay mình làm ra như nước mạch đầu nguồn, của cha mẹ để cho như nước sông khi lũ". Cúa ở đây không phải nói lái từ tiếng Việt sang mà là từ Tày gốc. Cúa cái (của cải). “Rườn mâừ mì lai cúa cái” (Nhà mày có nhiều của cải).

Thực tế vô tình trong cuộc sống có những từ gần nghĩa, gần âm giữa các tộc người. Người Tày có câu: "Pỉ pây, khoăn nhằng dú thang sàn, bâư mạy tốc dá doăn noọng nớ" (Anh đi hồn còn ở cuối sàn, lá cây rụng chớ giật mình em nhé). "Doăn" (giật mình), rất khó dùng chữ Việt để tải nổi chữ "doăn" bởi một nhẽ không có chữ Tày mà chỉ có tiếng Tày. Ta hay lầm tưởng là có chữ viết Tày Nùng, nhưng không phải vậy, chỉ có chữ Nôm Tày chứ chưa có chữ viết Tày. Xưa nay chỉ dùng chữ Việt để tải tiếng Tày mà thôi, có ai dám chỉ ra đâu là chữ Tày Nùng. Cho nên việc lầm tưởng này đã để lại nhiều hệ lụy cho hôm nay và mai sau.

Để tiếng Tày được lưu giữ và phát huy, đã đến lúc các cấp, các ngành liên quan cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm khuyến khích con em tộc người Tày học nói tiếng Tày. Bởi một quy luật tất yếu là mất tiếng nói tức là mất văn hóa, là mất gốc và sẽ mất tất cả.

Mông Văn Bốn

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

caytuyet re

tacnghiep re