Slide07.jpg

Bảo tồn và phát huy giá trị Văn tự người Dao

Trong các dân tộc thiểu số ít người hiện nay, dân tộc Dao là một trong những dân tộc có văn tự riêng là chữ Hán Dao, được sử dụng trong cộng đồng rất phong phú và đa dạng, là một vốn văn hóa quý báu cần được bảo tồn và phát huy.

Các tập thơ chữ Dao của người Dao ở Cao Bằng.

Người Dao có nhiều chi, riêng người Dao Việt Nam có 49 chi, nhiều chi có phương ngữ riêng, một số chi không thông thoại được với nhau vì ngôn ngữ bất đồng. Người Dao quen sống khép kín, rất ít hôn nhân với các dân tộc khác kể cả các chi người Dao với nhau. Các chi người Dao đều có văn tự dùng cho cộng đồng để phục vụ cuộc sống và sinh hoạt văn hóa, duy trì tín ngưỡng truyền thống của người Dao. Văn tự người Dao sử dụng lấy chữ Hán làm cơ sở, nhưng có đặc điểm riêng, đó là cách phát âm trong hai lĩnh vực: thư tịch (Kinh ngôn) và thơ ca (thi ngôn) khác nhau.

Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, cộng đồng người Dao luôn cố gắng tạo chữ Dao riêng để sử dụng trong cộng đồng, nhưng do hoàn cảnh lịch sử và phải thiên di nhiều, khó khăn trong tích tụ tri thức, nên họ đã không có điều kiện sáng tạo ra chữ riêng cho cộng đồng (Dao văn) để dùng tương tự như chữ Nôm Việt, Nôm Tày. Thư tịch người Dao dùng cơ bản là chữ Hán và họ đã cố gắng sáng tạo ra một vài chữ cho riêng dân tộc mình, như: Chữ “bố, mẹ” (te, ma): chữ “te” ghép chữ phụ (bố) trên, chữ thượng (trên) phía dưới; chữ “ma” (mẹ) ghép chữ phụ trên, chữ hạ phía dưới; chữ “học” dùng ghép chữ “văn” phía trên với chữ tử (con) phía dưới. Ngoài ra, chữ Dao còn một số chữ là chữ Hán sai hoặc thiếu nét do thất truyền.

Người Dao không dùng tiếng dân tộc thường dùng trong thư tịch mà dùng kinh ngôn để biểu đạt, gần gũi với phương ngữ Hán mà người Dao cận cư, như từ “piao” (nhà) không có chữ biểu đạt thì kinh ngôn dùng chữ “ca” (gia), thi ngôn dùng “ki-a”; Từ “piang” (hoa) không có chữ nên dùng kinh ngôn là “hoa”, thi ngôn là “koa”. Muốn biết kinh ngôn và thi ngôn thì phải học và giao tiếp xã hội.

Thơ ca người Dao, ai biết chữ Hán đều có thể đọc được, nhưng khi đọc mỗi chi Dao lại có cách đọc khác nhau. Người Dao muốn nghe được thơ ca phải có tri thức, vì tiếng Dao thường ngày không dùng trong thơ ca.

Một ví dụ về thơ ca người Dao chuyển sang âm Hán Việt trong câu:

 “Hò gièn pú ngái hoàng kiêm ốc, hò gièn pú ngái chu xuân dèn”.

 Chữ Hán nghĩa là: Hà nhân bất ái hoàng kim ốc, hà nhân bất ái tử tôn hiền.

 Dịch nghĩa là: Ai chẳng muốn nhà mình giàu có, ai chẳng muốn con cháu thảo hiền.

 Hay trong câu: “Giêng nam pú kiáo pú y dàng lồ, giêng ni pú kiáo pú y dàng chi".

 Chữ Hán là: Sinh nam bất giáo bất như dưỡng la, sinh nữ bất giáo bất như dưỡng chư.

 Dịch nghĩa là: Đẻ con trai không dạy không bằng nuôi la, đẻ con gái không dạy không bằng nuôi lợn.

Qua những ví dụ trên có thể khẳng định, văn tự người Dao chủ yếu dựa vào chữ Hán, vì chữ tự sáng tạo không đáng kể nên không thể gọi là chữ Nôm Dao. Các thư tịch và thơ ca người Dao mang tính nhân văn sâu sắc, đều lưu giữ bằng văn tự như: Quá sơn bảng, Bình hoàng quyến điệp, Bàn vương quyến điệp. Các giai tầng lưu giữ và bảo tồn văn hóa người Dao chủ yếu là trí thức người Dao và các đạo sỹ, thầy cúng, nên không phổ biến rộng được trong cộng đồng.

Ngày nay người Dao các nước đều có văn tự riêng để biểu đạt tiếng Dao thường ngày, người Dao ở nước ta dùng chữ gốc La tinh để giao dịch rất tiện ích. Tại tỉnh ta, người Dao phân bố chủ yếu ở các huyện: Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm, Thông Nông. Trong đó, những người Dao ở huyện Nguyên Bình còn lưu giữ lại được khá nhiều văn tự của cha ông để lại và vẫn được sử dụng trong đời sống hằng ngày, đặc biệt, là các đạo sĩ và thầy cúng.

Có thể nói, chữ Hán Dao truyền thống là một nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống người Dao, vì vậy, các cơ quan chức năng và chúng ta cần chung tay, góp sức để bảo tồn, phát huy và khai thác vốn ngôn ngữ của văn tự Dao, làm cho nền văn hóa dân tộc càng thêm phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc.

 
Nông Danh
Slide08.jpg
Slide11.jpg
Slide10.jpg
Slide02.jpg