Slide09.jpg

Ngày xuân trẩy hội "Lồng Tồng"

Cũng như nhiều miền quê khác của cả nước, ở tỉnh ta từ ngàn đời nay, Tết đến, xuân về đi trẩy hội đã trở thành mỹ tục. Già, trẻ, lớn, bé đều rủ nhau đi trẩy hội để chiêm ngưỡng cảnh sắc mùa xuân của quê hương, đất trời, để đắm mình vào các làn điệu dân ca giao duyên, cộng cảm tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

Lễ hội Chọi bò xuân huyện Bảo Lâm.

Từ thuở tóc còn để chỏm, mới chập chững đi từ con đường làng tới trường, tôi đã được chứng kiến lớp đàn anh, đàn chị cứ mùng 5, mùng 6 Tết trở đi, tối đến bên bếp lửa hồng lại túm 5, tụm 3 rì rầm những câu lượn, câu sli và sắm sửa những "bộ cánh" tinh tươm nhất, "mốt" nhất để chuẩn bị sánh bước vào mùa lễ hội. Sớm nhất là hội Lồng tồng (Xuống đồng), ở Bản Co ngày 8 tháng Giêng, Bản Buống (Triệu Ẩu) 12 tháng Giêng; tiếp đến là hội Tổng Khuốn 15 tháng Giêng, Tổng Sluống 16 tháng Giêng... cho đến 18, 19/3 là hội ở phố Phục Hòa, phố Cách Linh. Sau cùng nhất là hội chợ Háng Chấu (Quảng Uyên) 28/3. Tương tự, các huyện Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, Thông Nông... cũng diễn ra nhiều ngày hội tưng bừng, rực rỡ cờ hoa trong dịp tháng Giêng, tháng Hai. Nhưng ở đây phần nhiều là lễ hội lịch sử nhằm tôn thờ, ngưỡng vọng công đức của các bậc danh nhân, hào kiệt có nhiều cống hiến cho đất nước, cho dân tộc hoặc cho làng, cho xã, như: hội đền Kỳ Sầm nhằm tôn thờ nhân vật lịch sử Nùng Trí Cao; hội đền Vua Lê, chùa Đà Quận ở Hòa An; Hội chùa Sùng Phúc ở Hạ Lang, hội chùa Tam Bảo ở Nguyên Bình. Những năm gần đây, hòa vào dòng chảy của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, huyện vùng cao Bảo Lạc, Bảo Lâm xuất hiện thêm hội chọi bò và thi bò đẹp vừa mang đậm bản sắc văn hóa vùng cao, vừa mang tính phồn thực.

Ở các lễ hội dân gian này đều mang một nét chung là sau phần lễ gồm những già làng, trưởng bản có uy tín đầu đội khăn đỏ, áo vàng dẫn đầu một tốp nam thanh niên tuấn tú, khỏe mạnh khiêng đồ lễ gồm lợn quay, gà thiến, xôi đỗ và rượu ngon cùng với đội múa rồng, múa lân đi lễ thờ xin phép thổ công hoặc các vị thần linh ở miếu, ở đền để tỏ lòng biết ơn công đức của các vị, cầu mong các vị phù hộ độ trì cho ngày hội tưng bừng, náo nhiệt, cầu phúc lộc an lành cho dân làng là đến phần hội. Phần hội này thường kéo dài cả ngày lẫn đêm, có hội kéo dài 2, 3 ngày liền. Ở đấy diễn ra nhiều trò chơi dân gian, như: hát lượn, thi đánh cù, chọi gà, chọi chim họa mi, cờ người... Đặc biệt có múa rồng, múa lân với những động tác uốn éo, uyển chuyển làm bừng sáng cả một vùng. Có nơi, những đội múa lân "phi qua vòng dao, lao qua vòng lửa" đầy tinh thần thượng võ, để lại những lời trầm trồ, thán phục của mọi người. Cho nên ngày hội thu hút nhiều giai nhân, sĩ tử tài hoa, lượn hay, múa giỏi, vì thế có sức hấp dẫn lạ lùng, trẻ cũng hăm hở, già cũng náo nức. Còn nam thanh, nữ tú thì đi chợ hội là để hát lượn, để nghe lượn, để "xẻo lèng" (nhậu), rồi để mắt tìm trong mắt, lời yêu ngỏ lời yêu, để rồi mang về những đắm đuối, si mê... Nhưng đông vui hơn cả, có sức lay động, gọi mời hơn cả vẫn là ngày hội "Thua pháo" (Tranh đầu pháo) ở Quảng Uyên diễn ra trong 2 ngày mùng 1, mùng 2/2 âm lịch hằng năm.

Theo các cụ cao niên ở phố Quảng Uyên thì chợ hội này có từ lâu đời lắm rồi! Hằng năm cứ đến chiều 30 tháng Giêng, nghĩa là ngày áp phiên là khách từ muôn phương đã dồn về làm náo nhiệt cả phố núi Quảng Uyên. Tối đến nhà nào, nhà nấy chật kín khách. Chủ nhà nào cũng vậy, hôm ấy không phân biệt khách lạ hay khách quen, cứ có khách đến là vồn vã mời chào. Khách đến càng đông nhà càng chật, càng vui. Quả là một nét văn hóa độc đáo, hiếm nơi nào có được! Và tối hôm ấy sau khi chủ và khách đã mở lòng, cứ thế một tốp nam, một tốp nữ hoặc một đôi nam, một đôi nữ, sau những giây phút chào mời cùng đôi chén rượu, chén trà, điếu thuốc làm quen là họ bắt đầu vào cuộc lượn. Chỗ này hèo phươn "Tồng lố, nầy lồ...", chỗ kia lượn then "Anh ới, em ơi..."... Nhưng vui hơn cả, cuốn hút hơn cả vẫn là "Hà lều, hà đới ..." của các nam thanh, nữ tú người Nùng Lòi. Còn gì đáng nhớ hơn khi mình đưa chén rượu mời thì bạn vừa đón chén rượu từ tay mình vừa cất lên câu lượn tỏ lòng biết ơn: "Điếp căn căm chẻn lẩu mà dèn/Khần nẳng slong mừ pen á né!" (Thương nhau mời chén rượu này/Thì tôi xin được ngửa tay nhận liền). Cứ thế đối đáp nhau từ rượu sang tình, sang duyên, sang cả nhân tình thế thái rồi lại trở về tình thắm duyên quê! Làm người nghe xung quanh cũng phải nín thở, phập phồng cùng đêm lượn: "Khách lạ quây lai tỉ thom mà/Lai hảo hán dùng va hẳm nảy" (Khách lạ, quen tứ xứ dồn về/Lắm hảo hán hồn mê cùng lượn); Hoặc như câu: "Điếp căn ràu mại mại điếp căn/Đảy tồng tõi kì lằn chí dá... (Thương nhau trọn kiếp, trọn đời/Đôi lân cùng múa, chung lời mới thôi).

Chính những câu lượn như trên đã tạo nên cái hồn, cái cốt của chợ hội Pháo Hoa Quảng Uyên và có sức lay động tâm can nhiều lớp người là như vậy. Mãi đến sáng ngày mùng 2/2, (ngày chính của lễ hội) khi nghe tiếng tùng xoèng... tồ lùng tùng xoèng... tùng xoèng của đội múa rồng, múa lân rộn rã vào miếu lễ thần và đi chào từng nhà, từng dãy phố thì cuộc lượn mới tạm lắng để hòa vào dòng người nghìn nghịt với đủ sắc màu của trai tài, gái sắc khắp mọi miền quê theo đuôi con rồng đến địa điểm mà mọi con tim, mọi dồn nén đợi chờ giây phút thiêng liêng nhất của lễ hội, nơi sẽ diễn ra lễ bắn pháo và tranh đầu pháo. Rồi cả đám đông hàng mấy nghìn người ùa ra, reo hò, cổ cũ bên thắng cuộc (cướp được đầu pháo) đem may mắn về cho làng, cho xã để cả năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nhà nhà no đủ, đầy ắp tiếng nói, tiếng cười, người già vui khoẻ, người trẻ đẹp xinh... Để rồi khi giã bạn họ lại trao gửi cho nhau những câu lượn thao thiết ân tình, chân bước đi nhưng hồn vẫn ở lại, vương vấn nơi bạn tình. Khi đến phút chót phải ra về kẻo tối trời, đường xa thì họ lại cất lên những lời da diết, cháy lòng: "Bân răng chảo háng lượn pháo hoa/Sle hử nọng nắc na slim slẩy/Dì hỏi mừa dì hảy rằư thăn/Khoăn ni đuổi kì lằn dá lố" (Trời sinh hội pháo hoa làm gì/Để em cất bước những thì rối tâm/Ra về em những khóc thầm/Hồn em đã bị kì lân nuốt rồi).

Lễ hội dân gian nói chung, hội "Lồng tồng" nói riêng ở Cao Bằng rộn ràng, náo nức và hút hồn như vậy đó! Thật đáng để đời đời cháu con mai sau gìn giữ, phát huy cùng nhau hướng về nguồn cội, cân bằng đời sống hiện thực với tâm linh, hướng về những giá trị nhân văn cao cả mà cha ông truyền lại.

 
Chu Sĩ Liên
Slide07.jpg
Slide10.jpg
Slide03.jpg
Slide10.jpg