Slide03.jpg

Hát Then đàn tính Cao Bằng

Hát then đàn tính (gọi tắt là Then tính), là loại hình dân ca đặc sắc nhất của Cao Bằng. Then tính xuất hiện lâu đời, nhưng đến nay các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn trong nước và trong tỉnh vẫn chưa xác định được nó sinh ra từ thời nào.

Tốp then "Tổ khúc Non xa xa" do Hội Bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh biểu diễn.

Chỉ biết rằng, hát then và cây đàn tính diệu kỳ ấy bắt nguồn từ cuộc sống lao động tập thể cộng đồng người Tày cổ, tiêu biểu có bài: Sơ sơ ngòi mà tướng lạ nhân/Bách vật dú chang đông sơn hào/Pin bân phựt tua tâừ cụng xong/Tua eng là tham sloong nhi nhec/Tua cải là tham pét ư hư... (tạm dịch: Toán đi săn người quen kẻ lạ/Bách thú trong sơn dã thiếu chi/Cung tên bắn con nào chẳng được/Con nhỏ khiêng hai đi vui vẻ/Con to khiêng tám kẻ nhọc nhằn).

Vậy là, hát then, đàn tính hẳn có từ khi tổ tiên loài người hình thành và có nhu cầu văn hóa, lao động tập thể. Thực tại, hát then tính có ở hai vùng, miền với giai điệu, cây đàn đặc trưng riêng, đó là then tính miền Tây và then tính miền Đông. Then tính hai miền được cắt nghĩa rõ ràng bằng một giai đoạn lịch sử khoảng 100 năm khi nhà Mạc ở Cao Bằng. Nhà Mạc đã tiến cử Trạng nguyên Bế Văn Phụng người Bản Vạn, Bế Triều, (Hòa An) làm tư thiên quản nhạc lập ra đội then nữ ngày đêm hát xướng phục vụ cung đình. Sau đó, khi Vua Ca Đáng Nông Quỳnh Văn quê ở xã Nga Ổ, châu Thượng Lang (Chí Viễn, Trùng khánh), là người nghệ sĩ tài hoa hiểu nhiều, biết rộng được Bế Văn Phụng mời vào cung đình lập nên đội then nam gọi là Giàng. Then (pựt hay vỉt) để chỉ nghệ nhân nữ hát, còn Giàng ám chỉ nghệ nhân nam hát. Đến khi triều Mạc tan rã, các nhạc công, ca sĩ chia tay nhau trở về quê cũ. Cây đàn tính ba dây âm cao thánh thót theo đội then tính nữ trở về vùng quê Hòa An và các huyện miền Tây, còn đội then giàng cùng cây đàn tính hai dây thanh trầm  theo các chàng trai về xứ sở quê hương Trùng Khánh và các huyện miền Đông.
 Theo cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, then tính có hai lối đi về giữa dân gian và cung đình, từ dân gian đi vào cung đình và được nâng cao lên, sau đó, từ cung đình lại trở về dân gian và được dân gian hóa. Do sự hiểu biết về then tính ở cung đình, các ca sĩ, pháp sư đã truyền dạy cho bao lớp học trò làm mo then, giàng, đời nọ tiếp đời kia cho đến ngày nay.

Vậy là, hát then, đàn tính hẳn có từ khi tổ tiên loài người hình thành và có nhu cầu văn hóa, lao động tập thể. Thực tại, hát then tính có ở hai vùng, miền với giai điệu, cây đàn đặc trưng riêng, đó là then tính miền Tây và then tính miền Đông. Then tính hai miền được cắt nghĩa rõ ràng bằng một giai đoạn lịch sử khoảng 100 năm khi nhà Mạc ở Cao Bằng. Nhà Mạc đã tiến cử Trạng nguyên Bế Văn Phụng người Bản Vạn, Bế Triều, (Hòa An) làm tư thiên quản nhạc lập ra đội then nữ ngày đêm hát xướng phục vụ cung đình. Sau đó, khi Vua Ca Đáng Nông Quỳnh Văn quê ở xã Nga Ổ, châu Thượng Lang (Chí Viễn, Trùng khánh), là người nghệ sĩ tài hoa hiểu nhiều, biết rộng được Bế Văn Phụng mời vào cung đình lập nên đội then nam gọi là Giàng. Then (pựt hay vỉt) để chỉ nghệ nhân nữ hát, còn Giàng ám chỉ nghệ nhân nam hát. Đến khi triều Mạc tan rã, các nhạc công, ca sĩ chia tay nhau trở về quê cũ. Cây đàn tính ba dây âm cao thánh thót theo đội then tính nữ trở về vùng quê Hòa An và các huyện miền Tây, còn đội then giàng cùng cây đàn tính hai dây thanh trầm  theo các chàng trai về xứ sở quê hương Trùng Khánh và các huyện miền Đông.  Theo cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, then tính có hai lối đi về giữa dân gian và cung đình, từ dân gian đi vào cung đình và được nâng cao lên, sau đó, từ cung đình lại trở về dân gian và được dân gian hóa. Do sự hiểu biết về then tính ở cung đình, các ca sĩ, pháp sư đã truyền dạy cho bao lớp học trò làm mo then, giàng, đời nọ tiếp đời kia cho đến ngày nay.

 Dường như chẳng thấy ở đâu, then tính lại có then nam và then nữ như Cao Bằng. Đặc biệt, chất liệu nghệ thuật then tính đã phát triển ở mức cao. Then tính Cao Bằng bao gồm nhiều làn điệu, trong đó có then miền Tây dịu ngọt, mềm mại, dung dị như người thiếu nữ dung nhan “nghiêng nước, nghiêng thành”. Đối lại, then miền Đông cất lên mạnh mẽ, trải lòng miên man, giai nhịp rộn ràng khúc tứ như chàng trai tuấn tú tài ba, hào phóng. Thật là “nam thanh,” “nữ tú” như biểu trưng riêng của then hai miền, nhưng khi kết hợp lại thì thành chỉnh thể đủ đầy, hoàn mỹ, khiến người ta linh cảm về một miền then gốc.
Then tính phong phú thể loại, gồm nhiều làn điệu và các bài hát cổ. Theo Nhạc sĩ Trần Sòi và một số nhà nghiên cứu, then miền Tây có 5 làn điệu, đó là: Tàng bốc - Pây cảnh hoặc Pây tàng; đây là làn điệu then đường trường, nhịp điệu mạnh mẽ, vui tươi mô tả chuyến du ký hành hương dạo cảnh non nước sơn thủy hữu tình. Tàng bốc - Rọng khoăn, là những lời hát gọi hồn về, mang tính tâm linh với giai điệu êm ái. Tặng tính - những bài hát kính báo tổ tiên, thần thiêng bốn phương tám hướng, kính báo lên trời, cầu mong phúc lộc an lành. Khảm hải - là lời ca vượt biển, một cung đường xa để đi tiếp lên mường trời. Đông mèng - Đông Ngoảng, gồm những khúc hát mô tả đoàn người vượt qua cung đường núi non hiểm trở với giai điệu nhanh, mạnh, nhịp ngựa phi để bay lên trời cầu phúc, cầu may.
Then miền Đông có 7 làn điệu: Tàng bốc - tàng cảnh, là làn điệu mô tả cuộc du ngoạn cảnh trí quê hương, núi non gấm vóc; Tàng bốc - Pây mạ, giai điệu mạnh mẽ như phi ngựa, như trong cuộc chiến, hoặc đi lên mường trời; Tàng nặm - Khảm hải (hoặc pây ẻn, hỉn ẻn), đều cùng giai điệu nhịp nhàng như chèo lái thuyền vượt biển để đi tiếp lên trời; Thỏng hương, kính trình tổ tiên, xin cầu phúc, vận may, cầu lộc, sức khỏe an lành. Làn điệu mang nội dung tâm linh; Giáp ba, là làn điệu du xuân, lễ hội với nhịp nhanh (3/8) vui tươi, phấn khởi; Hả liệu, làn điệu hát tâm tình, giao duyên, xum họp trúc mai, vui vẻ, trong sáng; Khảm khắc, nhịp điệu nhanh, mạnh tựa ngựa phi, mô tả đoàn người vượt qua núi non, hiểm trở để lên mường trời, cầu phúc lộc.
Tất cả có 12 làn điệu then tính trên phạm vi toàn tỉnh. Hầu hết các làn điệu then tính đều có lời hát thất ngôn tứ tuyệt hay thất ngôn trường thiên, có bài và làn điệu  theo thể ngũ ngôn (năm chữ). Một số làn điệu then tính có tên gọi khá giống nhau giữa then miền Đông và miền Tây, thậm chí về chủ đề nội dung miêu tả, phản ánh có phần giống nhau, nhưng giai điệu thì khác nhau rõ ràng.

Nói đến then tính là phải nói tới cây đàn tính. Cây đàn tính (đàn then, tính tẩu) là nhạc cụ độc đáo có âm thanh mượt mà, giàu chất trữ tình, làm cho nghệ thuật hát then được nâng cao, có sức cuốn hút lòng người. Cây đàn gồm hai bộ phận chủ yếu là hộp đàn làm bằng quả bầu khô và thân đàn. Người Tày có câu "slam căm tẩu, cẩu căm gàn", nghĩa là đường kính bầu đàn bằng ba nắm tay ngang, thân đàn bằng chín nắm tay, đó là cây đàn tính nam. "Nhình chất, dài cẩu", ý nói là cần đàn nữ dài bằng bảy nắm tay, nam là chín nắm tay. Đàn tính nam mắc hai dây, đàn tính nữ ba dây (dây tiền, dây hậu, dây trung), dây trung thấp hơn dây tiền một quãng 8 để đàn thêm ấm tiếng.

Các làn điệu then thường được "trình làng" trong sinh hoạt đời sống người Tày, trong dịp hát cúng lễ, vào nhà mới, chúc thọ, đám cưới, tảo mộ, tang lễ, lễ cấp sắc còn gọi là lẩu pựt (vỉt) hay hội then... So với các thể loại dân ca khác, then tính có sức sống mãnh liệt, trường tồn và được nhân dân các dân tộc Cao Bằng quý trọng, gìn giữ nâng niu, coi đó là nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt cộng đồng. Hầu hết các làn điệu then tính đều được sử dụng và phát triển trong các lễ hội dân gian truyền thống, trên sân khấu chuyên nghiệp, trong phong trào ca hát quần chúng.

 
Lê Chí Thanh
Slide09.jpg
Slide06.jpg
Slide02.jpg
Slide08.jpg