Slide05.jpg

Vững bước qua những thăng trầm lịch sử

Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, đối phó với các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lấn; thay chuyển của các triều đại phong kiến phân quyền; thực dân Pháp đô hộ và đấu tranh cách mạng (CM) giải phóng dân tộc là nhuệ khí yêu nước, trấn giữ biên ải qua các thế hệ của nhân dân các dân tộc thành phố Cao Bằng, xây dựng trung tâm phồn thịnh.

Vững bước qua những thăng trầm lịch sử

Một góc thành phố trẻ Cao Bằng.

NGHÌN NĂM THẾ TRẬN, CHẤN HƯNG BIÊN THÙY

  ...Trừ tà muôn thuở gươm còn đó/Bình chính ngàn năm dạ chẳng mòn... Câu thơ của Hoàng Đức Triều toát lên nhuệ khí nghìn năm cha ông ta chống lại âm mưu xâm lấn của phong kiến phương Bắc, chấn hưng biên thùy. Thế kỷ III, trước công nguyên, Thục Phán đứng đầu kinh đô Nam Bình (Cao Bình, xã Hưng Đạo) đã lãnh đạo quân và dân đánh tan quân Tần Thủy Hoàng (Trung Quốc) trên sông Bằng Giang và sông Kỳ Cùng. Kinh đô Nam Bình ngày càng hưng vượng, Vua Hùng cùng Thục Phán hợp nhất Lạc Việt và Tây Âu thành nước Âu Lạc. Thục Phán lấy tên An Dương Vương xây thành Cổ Loa (Hà Nội). Các nhà sử học đánh giá, Thục Phán thành lập được nước Âu Lạc bằng uy tín của mình đã đoàn kết người Tây Âu và Lạc Việt. Khối đại đoàn kết này là cơ sở chính trị, nguồn gốc mọi lực lượng để người Việt tiếp tục đánh tan quân Tần trên các mũi tiến công khác.

Đến thời kỳ phong kiến, từ thế kỷ XI - XVIII, các triều đại phong kiến nước ta nhiều lần đứng trước mối đe dọa xâm lược của phong kiến phương Bắc. Vùng đất biên ải Cao Bằng, mà trung tâm Thành phố có nhiều nhân kiệt và nhân dân đồng lòng, dốc sức tham gia các trận chiến dưới sự chỉ huy của các tù trưởng, tướng lĩnh tài giỏi đánh giặc giữ vững biên thùy, bảo vệ đất nước. Nùng Chí Cao (1041 - 1053) và Nùng Tôn Đản (1046 - 1076) đánh quân Tống; Bế Khắc Thiệu đã tập hợp nhân dân đánh tan quân Minh (1406 - 1427)..., được nhà Lý, Trần tôn vinh công trạng đánh giặc phương Bắc, trấn giữ biên thùy, góp công lớn vào chống giặc  ngoại xâm cho đất nước.

Thành phố thời phong kiến không chỉ nổi danh trấn giữ biên ải mà còn tích cực chấn hưng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nổi bật là nhà Mạc (1528 - 1592). Năm 1585, nhà Mạc suy yếu sau phân tranh quyền lực với nhà Lê. Năm 1592, nhà Mạc đã chạy lên Cao Bằng chọn Nà Lữ (Hoàng Tung, Hòa An) là đế đô, vương phủ Cao Bình (xã Hưng Đạo) xưng vương hiệu nối truyền qua 3 đời vua: Mạc Kính Cung (1593 - 1625), Mạc Kính Khoan (1625 - 1638) và Mạc Kính Vũ (1638 - 1677). Nhà Mạc đắp thành lũy, chấn hưng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Ban hành nhiều chính sách khai khẩn ruộng đất, kiến tạo mương phai, phát triển các nghề thủ công, mở nhiều đường xá nối liền Cao Bằng với Lạng Sơn, Bắc Kạn. Xây dựng nhiều chợ làng để nhân dân các nơi về giao thương. Xây dựng nhiều đền, chùa (Đống Lân, Đà Quận, Quán Triều, Giang Động, xã Hưng Đạo (thành phố Cao Bằng) và Hồng Việt (Hòa An). Phát triển, nâng tầm hát Then, Lượn, Giàng dân ca bản địa thành nhạc cung đình, được lưu truyền phổ biến rộng trong nhân dân. Tổ chức khoa cử, mở trường Quốc học để chiêu mộ hiền tài. Hơn 80 năm trị vì và đế đô tại Cao Bình, nhà Mạc có nhiều công lao thúc đẩy phát triển văn hóa,  xã hội.

Tháng 9/1677, nhà Lê tiến quân lên đánh bại nhà Mạc. Đến năm 1683, quyền lực thực tế của nhà Mạc ở Cao Bằng chấm dứt. Sau khi dẹp xong nhà Mạc, triều đình giao cho tướng Hoàng Triều Hoa dời trấn lỵ từ Cao Bình về thành Mục Mã (8 xã, phường cũ của Thành phố, trung tâm là phường Hợp Giang). Thành Mục Mã được xây dựng và mở rộng, phát triển giao thương sầm uất. Các quan nhà Lê, Nguyễn quan tâm xây dựng và chấn hưng trở thành trung tâm chính trị, giao thương quan trọng của tỉnh.

TRĂM NĂM SÁNG ĐƯỜNG HOA - LỬA CÁCH MẠNG

Năm 1886 đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, thành phố Cao Bằng đặt dưới sự đô hộ của thực dân Pháp. Theo các bậc cao niên kể lại: Thực dân Pháp đặt bộ máy cai trị lên Thành phố, chúng âm mưu trấn an, ru ngủ người dân quên đi nỗi đau, nỗi nhục mất nước bằng cách mở nhiều sòng bạc, hiệu bán thuốc phiện, bán rượu cồn Phông Ten, mở nhà thổ gái điếm để đầu độc thanh niên. Nhiều gia đình khuynh gia, bại sản, tan cửa nát nhà vì có người thân bị mắc vào tệ nạn xã hội. Để thực hiện chính sách ngu dân, dễ cai trị, chúng chỉ mở một trường tiểu học đến lớp 4. Kích động gây chia rẽ giữa các dân tộc, đâm chém nhau. Chúng cho xây cầu Bằng Giang, Sông Hiến, mở Quốc lộ 4, xây dựng Pháo đài kiên cố, nhà máy điện 80 KW..., chỉ phục vụ cho nhu cầu của Pháp và những gia đình tư sản giàu có thân Pháp. Người dân sống cảnh trăm đường khổ cực, vì trăm thứ thuế vô lý đè nặng, phu phen tạp dịch.

Từ truyền thống cha ông “nghìn năm dựng gươm sắc trấn biên thùy”, hậu duệ ngoan cường đứng lên đấu tranh CM, giải phóng dân tộc. Phong trào đấu tranh chống Pháp nhen nhóm với các nhân vật; nhưng đều bị dập tắt vì chưa có một tổ chức chân chính tập hợp nhân dân đoàn kết, đồng lòng đánh đuổi quân thù chung.

Ngày 1/4/1930, Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập tại Nặm Lìn (Hoàng Tung, Hòa An). Tháng 7/1930, Chi bộ Đảng Gia Cung, Thành phố được thành lập, đồng chí  Hoàng Văn Lịch làm Bí thư có các trạm liên lạc bí mật tại nhà đồng chí Hoàng Thị Đào (Vườn Cam), Hoàng Thị Hà (Gia Cung), Việt Hoàn (Nà Cạn). Một số cửa hàng bán sách, báo tiến bộ cũng là cơ sở liên lạc của Đảng. Hằng năm, đến ngày Quốc tế lao động 1 - 5, các đồng chí rải truyền đơn, treo cờ búa liềm tuyên truyền ủng hộ “Xô Viết - Nghệ Tĩnh”, “Thời kỳ Mặt trận bình dân” (1936 - 1939), nhân dân Thành phố và các châu ủng hộ kéo về Thành phố đòi quyền dân chủ, dân sinh, chống sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch...

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó, Cao Bằng trực tiếp chỉ đạo CM Việt Nam, Mặt trận Việt Minh được thành lập và phát triển rộng ra toàn tỉnh, phong trào CM Thành phố được đẩy mạnh. Xã Xuân Phách (phường Đề Thám) đã trở thành xã Việt Minh hoàn toàn. Tiếp đó là các xã Hưng Đạo, Vĩnh Quang. Các đội tự vệ thường trực, tự vệ chiến đấu cũng được thành lập tại các địa phương này. Tháng 7/1945, thành lập Ban Việt Minh Thành phố, đồng chí Sơn Nhân làm chủ nhiệm chỉ đạo thành lập các tổ chức cứu quốc hoạt động mãnh mẽ. Ngày 13/8/1945, lệnh khởi nghĩa Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ở Tân Trào (Tuyên Quang) truyền đi cả nước. Ngày 21/8/1945, đồng chí Hoàng Đình Giong, Trưởng Ban khởi nghĩa của tỉnh chỉ huy quân giải phóng tiến vào Thành phố giành chính quyền từ tay Nhật.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với cả nước, nhân dân các dân tộc Thành phố anh dũng và bền bỉ dốc sức cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp (1946 - 1950). Tại Thành phố đã diễn ra nhiều trận đánh anh dũng của quân dân Cao Bằng. Từ năm 1947 - 1950, quân và dân Thành phố cùng lực lượng toàn tỉnh đánh nhiều trận phục kích tiêu hao sinh lực địch trên các trục đường giao thông làm cho địch hoang mang, giảm sút ý chí chiến đấu, không thực hiện được âm mưu chiến lược trong các cuộc tiến công.

Cùng thời điểm diễn ra Chiến dịch Biên giới 1950, quân và dân Thành phố tấn công vào Pháo đài và sân bay Nà Cạn, bố trí đại đội 238 đón đánh địch ở Khau Đồn, chặn đường số 3..., tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực ta đánh địch ở mặt trận chính Đông Khê. Chiến dịch Biên giới thắng lợi, sáng 3/10/1950, tỉnh Cao Bằng hoàn toàn được giải phóng. Ngày 3/10 đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân  thành phố Cao Bằng.

Sau ngày giải phóng, lực lượng thanh niên Thành phố tình nguyện theo các đơn vị đi phục vụ chiến dịch Tây Bắc, Điện Biên Phủ (1950 - 1954), góp sức cùng  nhân dân cả nước thực hiện kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), hàng ngàn con em các dân tộc  Thành phố đã xung phong ra chiến trường chiến đấu anh dũng, hy sinh xương máu của mình vì độc lập dân tộc. Trong hoàn cảnh chiến tranh, Thành phố khắc phục khó khăn, vẫn duy trì phát triển kinh tế, củng cố và xây dựng vững chắc hậu phương, chi viện cho tiền tuyến  miền Nam đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược.

Sau khi đất nước thống nhất, trong lúc Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Thành phố tích cực thực hiện các phong trào thi đua lao động sản xuất. Chiến sự tháng 2/1979, Đảng bộ, chính quyền Thành phố đã chỉ đạo các lực lượng dân quân tự vệ phối hợp cùng một số đơn vị bộ đội chiến đấu dũng cảm, nhiều đơn vị đã lập công xuất sắc.  

Từ năm 1980 đến nay, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc Thành phố đoàn kết chung sức khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội. Bắt nhịp với công cuộc xây dựng đổi mới đất nước của Đảng và Nhà nước.

 
Trường Hà
Slide05.jpg
Slide10.jpg
Slide10.jpg
Slide11.jpg