Slide01.jpg

Chuyện về thủ lĩnh Nông Hùng Thạc

Theo chính sử dưới triều vua Minh Mạng (1820 - 1840), cả hai cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ và Nông Văn Vân ở Tuyên Quang đều xảy ra trong năm 1833 và bị dập tắt năm 1836.

Theo cuốn “Bảo Lạc sự tích” của Tô Văn Luyện, nguyên thư lại tri phủ Tương Yên (Tuyên Quang) đầu thế kỷ 20, thủ lĩnh Nông Văn Vân đã đánh lừa được quân triều đình nhà Nguyễn đến đàn áp, ông khoác áo, mũ vào thi thể người vệ sỹ giả làm ông và thoát hiểm sang tá túc tại châu Quảng Nam, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), bàn giao sự nghiệp cho con là thủ lĩnh Nông Hùng Thạc, cuộc khởi nghĩa thoái trào.

Năm 1836, Nguyễn Công Trứ thống lãnh quân triều đình sai đào mỏm “ngư sơn” cho sông Neo chảy thẳng vào sông Gâm như ngày nay để phá thế phong thuỷ “làm cho Bảo Lạc không còn anh hùng chống lại triều đình”. Cùng năm ấy, tướng Nông Hùng Thạc xưng chúa (vương công) Bảo Lạc, tiếp tục cai quản châu Bảo Lạc và các vùng phụ cận cùng tồn tại với nhà Nguyễn. Trong cuộc khởi nghĩa, Nông Hùng Thạc là viên tướng tài trấn trị chống quân triều đình đến đàn áp ở hướng 6 xã phía đông và Ngọc mạo, bẻ gẫy các cuộc tấn công của triều đình. Sau khi tiếp quản, ông tổ chức nghĩa quân chống lại Bộ luật Gia Long năm 1815 trừng phạt nghĩa quân và gia tộc. Ông thay đổi cách tổ chức quân đội và hành chính để giữ Bảo Lạc. Quân đội chuyển từ tập trung sang phân tán, chủ yếu là dân binh thiện chiến ở nhà làm ăn, được cấp “ruộng binh” và vũ khí; chỉ có 2 đội (khoảng 200 quân) thường trực bảo vệ phủ chúa, nếu có địch đến địa phương thì lực lượng địa phương tổ chức đánh trả và cấp báo cho chúa chi viện; hằng năm dân binh được tuần tổng và cai đội huấn luyện.

Dinh thự dòng họ Nông ở Thị trấn huyện Bảo Lạc là chứng tích lịch sử của gia tộc Nông Văn Vân, Nông Hùng Thạc.

Nông Hùng Thạc ra sức củng cố biên khu Bảo Lạc, chống các cuộc càn quét của quân triều đình vào căn cứ từ Cao Bằng và Tuyên Quang. Ông sử dụng chiến thuật tránh đối đầu với quân triều đình mà tìm cách tập kích tiêu hao, đến năm 1837, sau mấy lần thất bại, triều đình thôi đánh vào căn cứ để nghĩa quân Nông Hùng Thạc mặc nhiên tự tại.

Sang thời Thiệu Trị, Tự Đức, vua ôn hòa hơn, giữa nghĩa quân và nhà Nguyễn ít xảy ra xung đột, nghĩa quân chỉ giữ thế thủ và nhằm mục tiêu hội nhập đất nước. Ông ra sức dẹp phỉ bạo loạn trong địa phương và phỉ từ Trung Quốc sang do hậu quả của cuộc khởi nghĩa Thái bình thiên quốc năm 1850 - 1864 thất bại… Nông Hùng Thạc được sự giúp đỡ tận tình của một số tướng lĩnh, nghĩa quân cũ từ họ hàng Lê Văn Khôi ở Cao Bằng như tướng Bế Hựu Lực. Nông Hùng Thạc là tướng văn, võ kiêm tài sáng suốt vận dụng quân sự làm hậu thuẫn cho đấu tranh ngoại giao, đàm phán với triều đình có hiệu quả. Sau sự kiện liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng ngày 31/8/1858, sang năm 1859, Pháp chiếm Sài Gòn, ông cử người xuống tỉnh đường Tuyên Quang kiện thổ ty Đồng Văn Nguyễn Doãn Cẩn tranh chiếm vùng Thiện Phùng, tức Tam Phùng vốn do thổ ty Bảo Lạc cai quản (gồm thượng, trung, hạ Phùng nay thuộc Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang) nhưng ông đã thua kiện. Năm 1862, nhân nhà Nguyễn ký Hoà ước Nhâm Tuất nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp, Nông Hùng Thạc kéo hơn nghìn quân sang đánh thổ ty Đồng Văn Nguyễn Doãn Cẩn, cử tả sư quan Chu Sinh Lệ đi Nam Sơn (thuộc Hoàng Su Phì) lập mưu bắt Cẩn về trị tội, vùng Thiện Phùng được thu hồi để Bảo Lạc cai quản như cũ.

Ngày 25/6 năm Quý Hợi 1863, Nông Hùng Thạc trương cờ “Bảo Lạc phù Lê tiết chế đại tướng quân Nông” kéo hơn nghìn quân đến chiếm thành Tuyên Quang để thử triều đình, nhưng nhà Nguyễn không phản ứng. Hơn một tháng sau, ông rút quân về đánh vua Miêu Sùng chúa Đà (Hùng Lục), chiếm cứ vùng Khuổi Bốc, Đường Thượng, tổng Đông Quang (nay thuộc huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang). Sau đó, suốt 5 năm, Thổ ty Bảo Lạc Nông Hùng Thạc đánh dẹp các toán phỉ bảo vệ cho cuộc sống của nhân dân. Cũng thời gian này, Chánh thống lĩnh trung châu quân nhà Nguyễn Vũ Trọng Bình báo cho Nông Hùng Thạc biết sẽ đến phạt ông về tội phản nghịch (phạt tiền), Nông Hùng Thạc xin khất. Tháng 4 Mậu Thìn năm 1868, sau khi nhà Nguyễn bị Pháp lấn tới chiếm cả Nam Kỳ, Nông Hùng Thạc cử người tâm phúc là tướng Tô Định Quang đến tỉnh quan Tuyên Quang đàm phán và xin triều đình tha tội phản nghịch trước kia, triều đình chuẩn y và vô hiệu hóa toàn bộ án phạt cũ đối với nghĩa quân Nông Văn Vân, phát bộ nhạc khí chiêng trống cho quân đội thổ ty, giao cho hậu sư quan Nông Hùng Phúc (tiêu chuẩn nhạc khí của quân nhà Nguyễn), chấp nhận sự quy thuận và cho Nông Hùng Thạc làm Thổ ty (vì chế độ thổ ty thế tập đã bị Minh Mạng bãi bỏ năm 1831), phong Tô Định Quang làm bang biện vì có năng lực đàm phán ngoại giao thông minh, mang lại sự hội nhập nghĩa quân với đất nước. Quyết định đúng đắn của vua Tự Đức với nghĩa quân Nông Văn Vân làm Nông Hùng Thạc được hội nhập với đất nước để lo bảo vệ biên cương cho nhân dân Bảo Lạc yên ổn làm ăn. Thổ ty có quân đội riêng trong cấu trúc của quân nhà Nguyễn, còn triều  đình hòa giải với chúa Nông Hùng Thạc là lợi cho đất nước.

Sau hội nhập, triều đình cử Tri phủ Nguyễn Văn Tính đến trị nhậm phủ Tương Yên, lập nha phủ ở Bản Khuông (Bảo Lạc) nơi có bản doanh và nhà của Thổ ty Nông Hùng Thạc. Tháng 7 năm Kỷ Tỵ 1869, Tổng thống lãnh quân triều đình sai Thổ ty Bảo Lạc Nông Hùng Thạc đem 300 quân đến châu Chợ Rã phối hợp với quân nhà Nguyễn và nhà Thanh tiễu trừ tàn quân giặc Ngô Côn, Đặng Chí Hùng (tức Tẩn Mạn Tài). Quân Bảo Lạc do Nông Hùng Phúc chỉ huy chiến đấu khôn ngoan, dũng cảm nên thắng lớn và giặc tan. Sau thắng lợi này, triều đình thưởng công cho Nông Hùng Thạc ấp thiên hộ, hàm Chánh thất phẩm, xung chức Trú phòng phủ Tương Yên. Hai con ông là tướng Nông Hùng Phúc và Nông Hùng Ân đều được thăng chức và thưởng.

Vậy là trong 254 cuộc khởi nghĩa xảy ra thời vua Minh Mạng, chỉ có cuộc khởi nghĩa Nông Văn Vân là thoái trào nhưng không dẹp được và dưới sự chỉ huy điều hành của chúa Nông Hùng Thạc, 40 năm sau, nhà Nguyễn ân xá cho vương tộc Nông Văn Vân và nghĩa quân, phủ Tương Yên được hội nhập với đất nước. Năm Canh Thìn 1880, vua Tự Đức từng ra chỉ dụ khen ngợi anh em Nông Hùng Phúc đánh giặc giỏi bảo vệ lãnh thổ đất nước.

Ngày 17/10 năm Canh Ngọ 1870, Thổ ty Bảo Lạc Nông Hùng Thạc qua đời, thế hệ kế tiếp của chúa Nông Hùng Thạc tiếp tục sự nghiệp của ông cha,  đánh đuổi hàng trăm toán giặc từ nước ngoài và nội địa cướp phá, xây dựng và bảo vệ biên cương Tổ quốc.

 
Nông Danh
Slide10.jpg
Slide05.jpg
Slide03.jpg
Slide05.jpg