Slide04.jpg

Chiến thắng Chiến dịch Biên giới có ý nghĩa quyết định giải phóng Cao Bằng

Thấy rõ vị thế của con đường số 4 - con đường huyết mạch trải dài trên 300 km qua 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, chạy qua khu căn cứ địa Việt Bắc - hậu phương lớn của cuộc kháng chiến có chung đường biên giới với Trung Quốc. Thực dân Pháp đã đóng hàng trăm đồn, bốt, tập trung một phần lực lượng và phương tiện chiến tranh để củng cố các vị trí với mưu đồ “cắm mũi dao sâu” vào giữa căn cứ địa kháng chiến của ta, đánh phá hậu phương lớn nhất của cuộc kháng chiến, thực hiện mưu đồ chia rẽ các dân tộc và ngăn chặn mối liên hệ với quốc tế của Việt Nam.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan sát đồn Đông Khê tại Chiến dịch Biên giới 1950.

                                                                                                                                      Ảnh T.L

Ngày 6/1/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đề ra chủ trương “Chuẩn bị chiến trường Đông Bắc cho thật đầy đủ để khi có điều kiện sẽ mở một chiến dịch lớn, quét địch ra khỏi đường số 4 và một đoạn bờ bể, đánh bại quân địch trong vùng Đông Bắc”. Trung ương Đảng đã chỉ rõ những phương châm hoạt động và kế hoạch chuẩn bị cụ thể: “Ở Đông Bắc trọng tâm công tác là chuẩn bị, cần phải tránh những hành động có hại cho việc chuẩn bị, nhưng phải hết sức linh động vì nhiều khi nhờ những hành động tranh đấu hằng ngày mà đẩy cho đà chuẩn bị chóng đi đến kết quả. Công việc chuẩn bị cần chú trọng đến củng cố và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang, gây cơ sở du kích miền bể… điều tra địch tình, phá hoại kinh tế địch, chuẩn bị lương thực tiếp tế cho bộ đội đến đánh địch”. Việc chuẩn bị cho chiến trường Đông Bắc và đường số 4 “phải trong một thời gian lâu”.

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh, quân và dân các tỉnh biên giới, nhất là tỉnh Cao Bằng tích cực chuẩn bị các mặt để đánh địch, nhân dân các tỉnh Đông Bắc hăng hái đóng góp sức người, sức của, tích cực chuẩn bị chiến trường, sửa đường, vận tải, thanh niên hăng hái vào bộ đội để giết giặc bảo vệ Tổ quốc. Sau khi chỉ đạo việc chuẩn bị về mọi mặt, tháng 6/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới, mục tiêu đề ra là: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới Cao Bằng đến Thất Khê; củng cố và mở rộng Khu căn cứ địa Việt Bắc. Mở đường liên lạc với quốc tế, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ, giúp đỡ của các nước đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Để trực tiếp lãnh đạo quân, dân thực hiện mục đích chiến dịch. Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết nghị thành lập Đảng ủy Mặt trận gồm 5 đồng chí.  Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương, làm Đảng Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Mặt trận; đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng Mặt trận; các đồng chí Trần Đăng Ninh, Lê Liêm, Bùi Quang Tạo trực tiếp tham gia phụ trách hậu cần, chính trị cho chiến dịch.

Ngày 9/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi đồng bào Cao - Bắc - Lạng”: “...Chiến dịch này rất quan trọng cho Cao - Bắc - Lạng và cho cả toàn quốc. Đồng bào ba tỉnh đã cố gắng rất nhiều trong việc chuẩn bị chiến dịch… Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào ba tỉnh, các ủy ban khánh chiến và hành chính, các đoàn thể nhân dân cố gắng thêm nữa, tiếp tục giúp đỡ cho bộ đội ta trước mặt trận để quân ta giết nhiều địch, đánh thắng to. Đồng bào hãy tiến lên làm gương kiểu mẫu cho nhân dân toàn quốc, giúp cho chiến dịch được thắng lợi”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch hồ chí Minh, tỉnh Cao Bằng đã thành lập ban huy động dân công cấp tỉnh, huyện, xã gồm trên nửa số cán bộ với tinh thần “Tất cả cho Chiến dịch toàn thắng”. Tính từ ngày 20/7/1950 đến ngày 30/10/1950, Cao Bằng đã có 78.824 người đi làm dân công với trên 50% là phụ nữ. Nếu tính từ đầu năm 1950, đã huy động tới 5 triệu 70 vạn ngày công, bình quân mỗi người đóng góp 100 ngày công; chưa kể trên 2 vạn nam nữ thanh niên các dân tộc tham gia bộ đội trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường. Ngoài sức người sức của, Cao Bằng còn huy động được 325.650 đồng, 30.703 kg thóc, 1.363 kg gạo, 17.734 m vải phục vụ chiến dịch.

Ngày 11/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Sở Chỉ huy Chiến dịch nói chuyện với Hội nghị cấp trung đoàn: “Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết định thắng trận này”. Người đã trực tiếp ra Sở Chỉ huy tiền phương tại Nà Lạn, xã Đức Long (Thạch An) quan sát đồn Đông Khê để cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo mọi công tác. Tại đây, Người đã làm bài thơ chữ Hán nổi tiếng. nội dung thơ là:

                                      “Chống gậy lên non xem trận địa,

                                      Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây,

                                      Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu,

                                      Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.

Ngày 16/9/1950, quân ta nổ súng đánh đồn Đông Khê. Ngày 30/9/1950, đồn Đông Khê bị thất thủ, binh đoàn Lơ Pagiơ từ Thất Khê (Lạng Sơn) lên định chiếm lại Đông Khê và đón binh đoàn Sactông từ tỉnh lỵ Cao Bằng rút về thì bị Tiểu đoàn 166 của ta chặn đánh. Sáng 3/10/1950, binh đoàn Sactông hoảng sợ, rút chạy về hướng Đông Khê nhằm hợp quân với binh đoàn Lơ Pagiơ nhưng kế hoạch bị thất bại, cả 2 binh đoàn Lơ Pagiơ và Sactông bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn.

Sau 29 ngày chiến đấu anh dũng, Chiến dịch Biên giới toàn thắng, quân và dân Cao - Bắc - Lạng đã đập tan hệ thống phòng thủ của địch trên đường số 4, giải phóng 5 thị xã, 12 thị trấn với 350.000 dân, tiêu diệt và bắt sống 8.300 tên địch, hoàn thành các mục tiêu do Trung ương đề ra trong chiến dịch, vùng đất đai quan trọng biên giới dài 750 km được giải phóng tạo điều kiện cho cách mạng nước ta liên lạc với các nước dân chủ nhân dân ở châu Á, châu Âu. Nguyên Toàn quyền Đông Dương Catơru chua chát xác nhận: “Sự thất bại của quân đội Pháp tại biên giới Việt - Trung tháng 10/1950 đã có ảnh hưởng quyết định đến số phận của Đông Dương và Điện Biên Phủ sau này đã phải chịu ảnh hưởng đó”.

 Chiến dịch Biên giới kết thúc, ngày 3/10/1950, tỉnh Cao Bằng sạch bóng quân xâm lược Pháp và hoàn toàn giải phóng. Ngày 3/10 hằng năm đã trở thành ngày chiến thắng, ngày hội truyền thống kỷ niệm của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Từ đây Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đi vào xây dựng cuộc sống mới phát triển về mọi mặt, ổn định đời sống nhân dân, chi viện sức người, sức của cho cuộc khánh chiến toàn quốc đi đến thắng lợi hoàn toàn.

 

 
Nông Hải Pín
Slide06.jpg
Slide04.jpg
Slide10.jpg
Slide11.jpg