Slide03.jpg

Chiến thắng CDBG - Giải phóng Cao Bằng có ý nghĩa lịch sử to lớn

Trong chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950, quân và dân Cao Bằng đã đóng góp sức người, sức của với ý chí quyết chiến quyết thắng và sức mạnh đoàn kết một lòng, anh dũng hy sinh, giết giặc lập công góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn mở Chiến dịch Biên giới năm 1950. Ảnh: T.L

Ngày 15/5/1949, có sự đồng ý của Mỹ, Chính phủ Pháp đề ra kế hoạch Rơve. Với kế hoạch Rơve, Mỹ từng bước can thiệp sâu và “dính líu trực tiếp” vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Thực hiện kế hoạch Rơve, từ tháng 6/1949, Pháp đưa nhiều vũ khí mới vào Việt Nam, tập trung quân ở Nam Bộ, Trung Bộ, tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường số 4, thiết lập “Hành lang Đông - Tây” (Hải phòng - Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La). Trên cơ sở đó, Pháp chuẩn bị một kế hoạch quy mô lớn tiến công Việt Bắc lần thứ hai (lần thứ nhất năm 1947), mong giành thắng lợi, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

Pháp thực hiện kế hoạch Rơve đã làm cho khu vực tự do của ta bị thu hẹp, căn cứ địa Việt Bắc bị bao vây. Để khắc phục khó khăn đó, tháng 6/1950, Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới lấy tên là Chiến dịch Lê Hồng Phong II nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; giải phóng vùng biên giới phía Bắc nước ta; mở đường liên lạc với Trung Quốc và thế giới dân chủ; thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Ngày 11/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Sở Chỉ huy chiến dịch nói chuyện với Hội nghị cấp trung đoàn: “Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết định thắng trận này”. Người đã trực tiếp ra Sở Chỉ huy tiền phương tại Nà Lạn, xã Đức Long (Thạch An) quan sát đồn Đông Khê để cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch chỉ đạo mọi công tác.

Ngày 16/9/1950, các đơn vị quân đội ta nổ súng mở đầu chiến dịch bằng trận đánh vào vị trí Đông Khê. Mất Đông Khê, quân địch ở Thất Khê lâm vào tình thế bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân Pháp buộc phải rút khỏi Cao Bằng theo đường số 4. Để yểm trợ cho cuộc rút quân này, Pháp huy động quân từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê và đón cánh quân từ Cao Bằng rút về; đồng thời, cho quân đánh lên Thái Nguyên để thu hút chủ lực của ta. Đoán được ý định của địch, quân ta chủ động mai phục, chặn đánh địch nhiều nơi trên đường số 4 khiến cho 2 cánh quân này không gặp được nhau. Hai binh đoàn Lơ Pagiơ và Sáctông bị tiêu diệt. Đến lượt Thất Khê bị uy hiếp, quân Pháp phải rút về Na Sầm vào ngày 8/10/1950, ngày 13/10/1950, Pháp rút khỏi Na Sầm về Lạng Sơn. Trong khi đó cuộc hành quân của địch lên Thái Nguyên cũng bị quân ta chặn đánh, quân Pháp trở nên hoảng loạn, phải rút chạy, đường số 4 được giải phóng ngày 22/10/1950 và Cao Bằng được giải phóng ngày 3/10/1950.

Chiến dịch Biên giới kết thúc, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.300 tên địch, giải phóng toàn tuyến biên giới Việt - Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân; chọc thủng “Hành lang Đông - Tây” của Pháp. Thế bao vây của địch cả trong và ngoài đối với căn cứ địa Việt Bắc bị phá vỡ. Kế hoạch Rơve bị phá sản. Với chiến thắng biên giới, con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông; quân đội ta đã trưởng thành, giành được thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính (Bắc Bộ) mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến.

Chiến thắng Chiến dịch Biên giới năm 1950 có sự đóng góp quan trọng của quân và dân Cao Bằng. Cao Bằng là khu vực tác chiến chủ yếu của chiến dịch, Bộ Chỉ huy chiến dịch giao cho lực lượng vũ trang của tỉnh ngoài việc tham gia đánh Đông Khê còn có nhiệm vụ bảo vệ hành lang viện trợ từ biên giới vào; chặn đánh quân dịch sục sạo vào Án Lại, Bản Tấn, Nước Hai (Hòa An); chặn đường rút lui và truy kích địch từ Thị xã chạy về Thị xã Bắc Kạn hoặc về Đông Khê; bắn máy bay, quấy rối đường tiếp tế hàng không của địch ở Thị xã; nếu địch rút khỏi Thị xã thì tiếp quản và tổ chức phòng không bảo vệ 2 cầu sông Bằng và sông Hiến.

Để thực hiện nhiệm vụ, Tỉnh đội Cao Bằng đã xây dựng và triển khai kế hoạch. Tiểu đoàn chủ lực của tỉnh có 3 đại đội, trong đó, Đại đội 238 được bố trí ở phía Tây Thị xã, đón đánh địch ở Khau Đồn, chặn đường số 3. Đại đội 398 bố trí ở phía Nam Thị xã, đón đánh địch ở Cốc Cằng (Chu Trinh) và chặn địch có thể rút chạy theo đường mòn từ Thị xã đi Canh Tân, Minh Khai xuống Đông Khê, đồng thời, bắn phá sân bay Nà Cạn kiềm chế địch tiếp tế bằng đường không cho Thị xã. Đại đội 670 bố trí ở phía Đông - Bắc Thị xã, đón đánh địch ở Bó Mu, phòng địch nống quân ra hướng Án Lại, Trà Lĩnh.

Đại đội địa phương huyện Hòa An bố trí ở phía Tây - Bắc Thị xã đón đánh địch từ Bản Ngần đến Đà Quận, đề phòng địch nống quân lên Nước Hai. Đại đội bộ đội địa phương liên huyện miền Đông bố trí ở phía Đông Thị xã, đón đánh địch từ Hà Trì. Mặt khác, Bộ đội địa phương huyện Trùng Khánh có nhiệm vụ bảo vệ vận tải; đại đội bộ đội địa phương huyện Quảng Uyên bảo vệ các kho tàng phía sau. Tại mặt trận chính Đông Khê, bộ đội địa phương huyện Thạch An bảo vệ kho tàng sát mặt trận và bổ sung cho đơn vị quân báo chủ lực. Bộ đội địa phương huyện Phục Hòa phối hợp với quân chủ lực bắn máy bay đề phòng chúng nhảy dù xuống Đông Khê.

Để đảm bảo cho thắng lợi của chiến dịch, Trung ương còn giao cho Cao Bằng đảm đương 2 nhiệm vụ: Huy động dân công sửa chữa đường, cầu, vận chuyển vũ khí phục vụ tiền tuyến và kịp thời bổ sung quân số cho các đơn vị bộ đội chủ lực 700 tân binh. Từ ngày 20/7 - 30/10/1950 đã có 78.824 người đi dân công chiến dịch, nếu tính từ đầu năm 1950 đã huy động tới 5 triệu 700 ngàn ngày công, bình quân mỗi người đóng góp 100 ngày công. Ngoài sức người, cả tỉnh huy động được 325.650 đồng, 1.363 kg gạo, 30.703 kg thóc, 17.734 m vải ủng hộ bộ đội, chưa kể số vải của Xưởng dệt Hội phụ nữ tỉnh cung cấp cho bộ đội. Chị em phụ nữ trong tỉnh đã góp 5 vạn đồng cho Quỹ kháng chiến. Đặc biệt là Phong trào “Bán gạo cho Hồ Chủ tịch khao quân” có 27.734 gia đình (trong tổng số 30.703 gia đình toàn tỉnh) đã bán 75.510 kg thóc. Riêng 3 đợt vận động mua thóc quân lương đạt 713.641 kg; úy lạo thương binh, ủng hộ bộ đội 1.960.800 đồng. Để bảo đảm cho việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, phụ nữ Cao Bằng không quản ngại khó khăn vất vả đã nhận đỡ đầu bằng hình thức, như nhận thương binh làm con nuôi, em nuôi để chăm sóc, nhiều bà mẹ ở tận huyện Bảo Lạc nơi xa xôi hẻo lánh nhất tỉnh cũng đã nhận 190 cán bộ, chiến sỹ làm con nuôi.

Những đóng góp của quân dân Cao Bằng đã góp phần vào chiến thắng của Chiến dịch Biên giới năm 1950, làm thay đổi cục diện chiến trường. Quân Pháp thất bại lớn cả về quân sự và chính trị, bị đẩy lùi vào thế phòng ngự bị động. Chiến dịch này có ý nghĩa quan trọng quyết định giải phóng Cao Bằng. Ngày 3/10/1950, Cao Bằng hoàn toàn giải phóng, trở thành ngày hội truyền thống kỷ niệm hằng năm của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Chiến thắng Chiến dịch Biên giới là bước ngoặt của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp.

 
Trịnh Phương
Slide10.jpg
Slide11.jpg
Slide05.jpg
Slide02.jpg