Slide09.jpg

Chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950

Tháng 6/1950, Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới, lấy tên là Chiến dịch Lê Hồng Phong II nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng vùng biên giới phía Bắc nước ta, mở đường liên lạc với Trung Quốc và thế giới dân chủ; thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo thuận lợi thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này hết sức quan trọng, chỉ được thắng, không được thua”.

 

Bộ đội ta xung phong đánh chiếm cứ điểm Đông Khê, Chiến dịch Biên giới 1950. Ảnh: T.L

Đầu tháng 9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ an toàn khu lên đường ra mặt trận và trực tiếp ra Sở chỉ huy tiền phương tại Nà Lạn, Đức Long, Thạch An quan sát đồn Đông Khê. Tin Bác Hồ ra trận đã gây xúc động mạnh mẽ trong lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta.

Sáng 16/9/1950, pháo binh ta đồng loạt bắn vào Đông Khê mở đầu chiến dịch. Từ hướng Bắc, 3 đại đội thuộc Trung đoàn 174 có hoả lực đại liên và ĐKZ yểm trợ tiến công 3 cứ điểm tiền tiêu của địch ở núi Yên Ngựa, Cạm Phầy, Phja Khoá. Sau bốn giờ đồng hồ kịch chiến, quân ta chiếm được vị trí Yên Ngựa và Phja Khoá. Chiều tối 16/9/1950, quân ta mở đợt tiến công thứ hai, cả 2 Trung đoàn 174 và 209 đồng loạt tiến công. Từ vị trí Cạm Phầy, Trung đoàn 174 tiến đánh đồn chính. Ở phía Tây Nam, Trung đoàn 209 nhanh chóng chiếm các vị trí tiền tiêu Pò Đình, Pò Hẩu, tiến vào tiêu diệt toàn bộ quân địch đóng ở nhà Phủ Thiện, Nha cũ, trường tiểu học. Rạng sáng 17/9/1950, địch lần lượt chiếm lại các vị trí đã mất.

17 giờ ngày 17/9/1950, ta đồng loạt mở đợt tấn công mới vào trung tâm Đông Khê, nhanh chóng chiếm được nhiều vị trí ngoại vi và trong thị trấn. Trung đoàn 174 được pháo binh ta đặt trên đỉnh Cạm Phầy bắn yểm trợ mở thêm một mũi tiến công đánh đồn chính. Trung đoàn 209 cũng kéo pháo vào cách đồn 300 m bắn thẳng để hỗ trợ bộ binh tiến đánh từ phía Nam. Quân ta chiếm lĩnh phần lớn các vị trí vành ngoài rồi phát triển vào khu trung tâm.

Đến 4 giờ 30 phút sáng 18/9/1950, Trung đoàn 174 đã thọc sâu vào sở chỉ huy địch, phối hợp với Trung đoàn 209 đánh chiếm toàn bộ đồn chính. 10 giờ cùng ngày, trận đánh Đông Khê kết thúc. Sau 54 giờ chiến đấu vô cùng anh dũng và quyết liệt, bộ đội ta đập tan cụm cứ điểm mạnh của địch, tiêu diệt và bắt sống trên 300 tên địch, bắn rơi 1 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao là: phải quyết tâm đánh thắng trận đầu, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi.

Mất Đông Khê, quân dịch ở Thất Khê lâm vào tình thế bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân Pháp buộc phải rút khỏi Cao Bằng theo đường số 4. Cao Bằng được giải phóng ngày 3/10/1950. Để yểm trợ cho cuộc rút quân này, Pháp huy động quân từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê và đón cánh quân từ Cao Bằng rút về; đồng thời cho quân đánh lên Thái Nguyên để thu hút chủ lực của ta. Đoán được ý định của địch, quân ta chủ động mai phục, chặn đánh địch nhiều nơi trên đường số 4 khiến cho hai cánh quân này không gặp được nhau. Hai binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông bị tiêu diệt. Đến lượt Thất Khê bị uy hiếp, quân Pháp phải rút về Na Sầm, rồi rút khỏi Na Sầm về Lạng Sơn. Cuộc hành quân của địch lên Thái Nguyên cũng bị quân ta chặn đánh. Đến ngày 15/10/1950, quân Pháp rút hết khỏi hành lang biên giới.

Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 tên địch, giải phóng toàn tuyến biên giới Việt - Trung từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân; chọc thủng “Hành lang Đông - Tây” của thực dân Pháp. Thế bao vây của địch cả trong và ngoài đối với căn cứ địa Việt Bắc bị phá vỡ. Con đường liên lạc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa được khai thông; quân đội ta trưởng thành, giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến.

Chiến thắng Chiến dịch Biên giới năm 1950 có sự đóng góp quan trọng của quân và dân Cao Bằng. Trong chiến dịch, việc tổ chức chỉ huy và bố trí lực lượng được chia làm 3 mặt trận, gồm: Mặt trận Đông Khê; Mặt trận ứng cứu và Mặt trận Na Sầm. Trong ba mặt trận ấy, Cao Bằng là tỉnh có khu vực tác chiến chủ yếu của chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho lực lượng vũ trang của tỉnh ngoài việc tham gia đánh Đông Khê còn có nhiệm vụ bảo vệ hành lang viện trợ từ biên giới vào; chặn đánh quân địch sục sạo vào Án Lại, Bản Tấn, Nước Hai (Hòa An); chặn đường rút lui và truy kích địch từ thị xã Cao Bằng chạy về thị xã Bắc Kạn hoặc về Đông Khê; bắn máy bay, quấy rối đường tiếp tế hàng không của địch ở Thị xã; nếu địch rút khỏi Thị xã thì tiếp quản và tổ chức phòng không bảo vệ hai cầu sông Bằng và sông Hiến...

Để thực hiện nhiệm vụ, Ban chỉ huy Tỉnh đội Cao Bằng đã xây dựng và triển khai kế hoạch. Tiểu đoàn chủ lực của tỉnh có 3 đại đội, đại đội 238 được bố trí ở phía Tây Thị xã, đón đánh địch ở Khau Đồn, chặn đường số 3. Đại đội 398 ở phía Nam Thị xã, đón đánh địch ở Cốc Cằng và chặn địch có thể rút chạy theo đường mòn từ Thị xã đi Canh Tân, Minh Khai xuống Đông Khê, đồng thời bắn phá sân bay Nà Cạn kiềm chế địch tiếp tế bằng đường không cho Thị xã.

Đại đội 670 ở phía Đông Bắc Thị xã, đón đánh địch ở Bó Mu, phòng địch nống quân ra hướng Án Lại, Trà Lĩnh. Đại đội địa phương huyện Hòa An bố trí ở phía Tây Bắc Thị xã đón đánh địch từ Bản Ngần đến Đà Quận, đề phòng địch nống quân lên Nước Hai. Đại đội bộ đội địa phương liên huyện miền Đông bố trí ở phía Đông Thị xã, đón đánh địch từ Hà Trì. Bộ đội địa phương huyện Trùng Khánh có nhiệm vụ bảo vệ vận tải; đại đội bộ đội địa phương huyện Quảng Uyên bảo vệ các kho tàng phía sau.

Tại mặt trận chính Đông Khê, bộ đội địa phương huyện Thạch An bảo vệ kho tàng sát mặt trận và bổ sung cho đơn vị quân báo chủ lực. Bộ đội địa phương huyện Phục Hòa phối hợp với quân chủ lực bắn máy bay đề phòng chúng nhảy dù xuống Đông Khê. Để đảm bảo cho thắng lợi của chiến dịch, Trung ương còn giao cho Cao Bằng hai nhiệm vụ: huy động dân công sửa chữa đường, cầu, vận chuyển vũ khí phục vụ tiền tuyến và kịp thời bổ sung quân số cho các đơn vị bộ đội chủ lực 700 tân binh.

Từ ngày 20/7 - 30/10/1950, có 78.224 người đi dân công chiến dịch, bình quân mỗi người đóng góp 100 ngày công, cả tỉnh đóng góp 325 nghìn 650 đồng, 1.383 kg gạo, 30.910 kg thóc, 17.915 m vải ủng hộ bộ đội, chưa kể số vải của Xưởng dệt Hội Phụ nữ tỉnh cung cấp cho bộ đội. Phụ nữ trong tỉnh góp 50.000 đồng cho quỹ kháng chiến. Đặc biệt là phong trào “bán gạo cho Hồ Chủ tịch khao quân” có 27.734 gia đình trong tổng số 30.703 gia đình toàn tỉnh đã bán 75.510 kg thóc. Riêng 3 đợt vận động mua thóc quân lương đạt 713.641 kg, ủng hộ bộ đội 1.960.800 đồng...

Trong Chiến dịch Biên giới, Cao Bằng có nhiều tấm gương tiêu biểu như tiểu đội trưởng Lý Viết Mưu hy sinh anh dũng được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trong nhân dân; tiểu đội phó La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương xông lên đánh bộc phá dập tắt hỏa lực địch; chị Đinh Thị Đậu (Thạch An) nhiều lần vượt qua lửa đạn địch dùng thắt lưng cõng thương binh trên lưng, lại vừa dắt thương binh ra ngoài cứu chữa. Chị Đinh Thị Bỏng (Thạch An) dẫn đầu 38 chị em dân công xã Đức Xuân suốt ngày đêm tiếp đạn ra tiền tuyến, chuyển thương binh về hậu phương. Chị Triệu Thị Soi (Trùng Khánh) vác đạn ra trận địa pháo. Các chị: Nguyễn Thị Bé, Đinh Thị Bỏng, Đinh Thị Đậu, Đinh Thị Mẩn, Nông Thị Đuông, Đàm Thị Nhay, Triệu Thị Soi được tuyên dương trong ngày lễ  mừng chiến thắng và được Chính phủ tặng Huân chương Chiến công hạng hai, nhiều chị được Bác Hồ tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán Tân Mão năm 1951.

 
Trịnh Phương
Slide06.jpg
Slide02.jpg
Slide06.jpg
Slide10.jpg