Slide11.jpg

Quá trình chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã đến với ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tiếp thu tư tưởng đó, Người khẳng định: “Không có lực lượng vũ trang thì không thể đánh thắng được bọn áp bức”. Tư tưởng chỉ đạo của Người được ghi rõ trong văn kiện đầu tiên của Đảng từ ngày đầu mới thành lập, đó là phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10/1930 nhấn mạnh: “Ngay từ bây giờ Đảng phải tổ chức bộ quân sự của Đảng để làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện; giúp cho công nông hội tổ chức đội tự vệ,.. và phải kết hợp đấu tranh kinh tế và chính trị, lợi dụng mọi cơ hội để phổ biến tư tưởng cách mạng… khuyến khích tổ chức một đội tự vệ công nông”. Năm 1935, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề nghị Bộ phương Đông của Quốc tế Cộng sản một yêu cầu “tuyệt đối cần thiết” là phải tạo điều kiện để các đồng chí trẻ ở Việt Nam và các nước thuộc địa châu Á tiếp thu được những kiến thức sơ đẳng nhất, kể cả về quân sự. Người đề nghị Bộ phương Đông cho xuất bản những cuốn sách nhỏ viết về nhiều vấn đề, trong đó, có vấn đề khởi nghĩa vũ trang.

Thực hiện chủ trương trên, đi đôi với tuyên truyền, vận động phát triển lực lượng chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, Đảng ta rất coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang. Từ rất sớm, các đội tự vệ đỏ trong Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Đội du kích Bắc Sơn, Đội du kích Nam Kỳ, Đội du kích Ba Tơ, các đội cứu quốc quân…, đã ra đời.

Khi cách mạng phát triển thành cao trào, tình hình trong nước và trên thế giới diễn biến rất phức tạp và mau lẹ; chiến tranh thế giới lần thứ hai đang lan rộng, phát xít Nhật đánh chiếm nước ta, thực dân Pháp hèn nhát dâng nước ta cho Nhật, nhân dân ta “một cổ hai tròng” chịu hai tầng áp bức bóc lột của Nhật - Pháp. Trước tình hình đó, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người qua mốc 108 (mốc cũ) biên giới Việt - Trung đến Pác Bó, xã Trường Hà (Hà Quảng). Người đã chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa cho phong trào cách mạng cả nước. 

Tại Pác Bó, Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Cao Bằng, với tư tưởng chỉ đạo “Muốn có một đội quân vũ trang mạnh trước hết phải có một đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững”. Cùng với việc ra sức xây dựng thí điểm mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề ra nhiệm vụ gấp rút chuẩn bị các đội tự vệ. Người chỉ thị “Ở đâu có Việt Minh thì ở đó phải có tự vệ và các đội tự vệ chiến đấu”. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (tháng 5/1941), việc xây dựng lực lượng vũ trang được xúc tiến khẩn trương. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ đạo: cần chọn những đồng chí cốt cán tốt nhất trong các đoàn thể cứu quốc: “để tổ chức các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu, phải xây dựng được một lực lượng vũ trang sẵn sàng”. Công tác đào tạo cán bộ quân sự cũng được Người chú trọng, Người phân công đồng chí Cao Hồng Lĩnh lập trạm liên lạc ở Trung Quốc để đưa đón cán bộ sang học tập quân sự, từ tháng 6 - 8/1941, theo chỉ thị của Người, đã có gần 100 thanh niên là con em các dân tộc Cao Bằng sang Trung Quốc học tập quân sự (Hoà An 42 người, Hà Quảng 22 người, Nguyên Bình 22 người…). Đến năm 1944, có hơn 200 thanh niên Cao Bằng sang học tại các lớp quân sự ở Điền Đông, Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc).

Cuối năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao cho các đồng chí Lê Quảng Ba, Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm mở một lớp quân sự tập trung đầu tiên tại Pác Bó (Hà Quảng). Người rất quan tâm đến lớp huấn luyện này và trực tiếp đề ra kế hoạch huấn luyện, sau mỗi ngày, người gọi đồng chí phụ trách đến báo cáo tình hình, rút kinh nghiệm và đặt kế hoạch huấn luyện cho ngày hôm sau. Người trực tiếp giảng dạy về cách đánh du kích, cách điều tra nắm tình hình địch…

Để có tài liệu giảng dạy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã biên soạn nhiều tài liệu quan trọng, như: “Mười điều kỷ luật”, “Chiến thuật cơ bản của du kích”, “Cách đánh du kích”, “Kinh nghiệm du kích Nga”… Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng cũng dịch và biên soạn một số tài liệu: “Người chính trị viên”, “Công tác chính trị trong quân đội cách mạng”. Những “giáo trình” quân sự đầu tiên này góp phần quan trọng vào việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.

Tháng 10/1941, Người quyết định thành lập đội du kích tập trung đầu tiên ở Pác Bó; đội gồm 12 người do đồng chí Lê Quảng Ba làm Đội trưởng, đồng chí Hoàng Sâm làm Đội phó, đồng chí Lê Thiết Hùng làm Chính trị viên. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ đầu năm 1942, Đảng bộ Cao Bằng mở nhiều lớp huấn luyện quân sự cấp tỉnh đào tạo cán bộ quân sự cho phong trào cách mạng. Lớp Quân chính khoá I được mở tại Khuổi Nặm, Pác Bó với khoảng 40 học viên; khoá II được mở tại U Mả, xã Dân Chủ (Hoà An) có gần 100 học viên; khoá III mở tại Nguyên Bình với khoảng 30 học viên; khoá IV mở tại Hà Quảng cũng có rất nhiều học viên… Sau các khoá học, các học viên trở về địa phương huấn luyện tổ chức lực lượng vũ trang các cấp.

Để có cán bộ huấn luyện quân sự mà phong trào đang đòi hỏi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị cho Đội du kích tập trung đầu tiên phân tán về các địa phương làm nhiệm vụ. Người chỉ thị cho Đảng bộ Cao Bằng: “Bây giờ là lúc phải tổ chức lực lượng vũ trang cho tới tận các địa phương, phải làm gấp. Nếu chần chừ sẽ không kịp đâu, chẳng mấy chốc mà hồng quân Liên Xô sẽ tiêu diệt bọn phát xít. Lúc bấy giờ ta phải có đủ lực lượng để đứng lên giành chính quyền”. Thực hiện chỉ  thị của Người, Tỉnh ủy Cao Bằng đã chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh xây dựng các đội tự vệ. Đến đầu năm 1943, các xã, tổng thuộc các châu: Hà Quảng, Hoà An, Nguyên Bình đều có các đội tự vệ các lớp huấn luyện quân sự.  Phong trào huấn luyện tự vệ trở nên rầm rộ khắp nơi, nhu cầu trang bị vũ khí của các đội càng trở nên quan trọng và cấp bách. Tháng 3/1944, liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đã chọn căn cứ Lam Sơn (Hoà An) để thành lập binh công xưởng do đồng chí Hoàng Đức Thạc (tức Lã) Bí thư liên Tỉnh uỷ chỉ đạo, để sửa chữa các loại vũ khí, sản xuất các loại vũ khí trang bị cho các đội tự vệ.

Trước khí thế của phong trào cách mạng ngày càng mạnh mẽ, ngày 13/8/1944, liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đã họp để thảo luận về thời cơ và điều kiện khởi nghĩa vũ trang ở Cao - Bắc - Lạng. Nhưng khi lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Trung Quốc trở lại Pác Bó (tháng 9/1944), Người đã nghe báo cáo lại toàn bộ tình hình và khẳng định: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới… Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự, song hiện nay chính trị trọng hơn quân sự, phải tìm ra hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”.

Để thực hiện phương châm hoạt động mới, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Hoàng Đức Thạc nghiên cứu thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (ĐVNTTGPQ). Với tính chất quan trọng của đội quân này, việc lựa chọn đội viên được tiến hành rất thận trọng. Sự trưởng thành của lực lượng vũ trang Cao Bằng nói riêng và liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng nói chung là một trong những cơ sở quan trọng để “chọn trong hàng ngũ du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”. Và “Đội quân giải phóng sẽ có nhiệm vụ là dùng vũ trang để kêu gọi, động viên, hỗ trợ nhân dân đứng lên giành chính quyền”. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã vạch ra những nét cơ bản của ĐVNTTGPQ và giao nhiệm vụ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp chuẩn bị thành lập, Người căn dặn: “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không sao tiêu diệt được. Tổ chức của đội phải lấy Chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo”...

Chấp hành chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh và sự chỉ đạo của Trung ương, với sự chuẩn bị khẩn trương, chặt chẽ, chu đáo về mọi mặt của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng, việc chuẩn bị thành lập ĐVNTTGPQ - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã hoàn thành. Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, ĐVNTTGPQ gồm 34 chiến sỹ do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy được thành lập. Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng đóng góp xứng đáng cho sự ra đời của ĐVNTTGPQ, đội có 25 đồng chí là con em các dân tộc Cao Bằng. Vừa mới ra đời, ĐVNTTGPQ đã lập được chiến công vang dội, trong 2 ngày 25 - 26/12/1944, Đội đã tiến công tiêu diệt 2 đồn Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho những trang sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra quân là chiến thắng.

Sự ra đời của ĐVNTTGPQ là một bước ngoặt trên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc ta, như chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta”.

 
Đinh Ngọc Viện
Slide10.jpg
Slide09.jpg
Slide02.jpg
Slide09.jpg