Slide10.jpg

Cây đàn tính Cao Bằng

Đàn tính (còn gọi là tính tẩu) là một loại nhạc cụ độc đáo của dân tộc Tày có âm mượt mà và giàu chất trữ tình không ồn ào náo nhiệt như các nhạc cụ khác. Song nó có sức hấp dẫn lạ thường, khi chậm rãi ngân nga buông thả như xói vào từng ngõ ngách của trái tim, khi khoan nhặt như thủ thỉ tâm tình với người yêu những âm thanh sâu lắng đậm đà dưới mái nhà sàn.

Nghệ nhân làm đàn tính ở Cao Bằng.

 

Đàn tính là tiếng nói tâm hồn của người Tày. Tiếng đàn tính lúc êm dịu, lúc vui tươi, góp phần tạo nên tính cách và đặc điểm của các loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật Tày.

Trước tiên đàn tính phục vụ cho cung đình, sau đó mới đi vào cúng lễ; song nó cũng là thứ đàn của các trai làng, gái bản vui chơi giải trí. Đàn tính hay còn gọi là tính tẩu, tính là đàn, tẩu là bầu đàn, làm bằng quả bầu già phơi khô, to nhỏ không có kích thước nhất định. Thân đàn nam dài hơn đàn nữ bằng chiều ngang hai bàn tay nắm, khoảng 75 cm. Theo tập tục người Tày nói: “nhình chất, chài cẩu” nghĩa là thân đàn của nam dài bằng bẩy nắm tay nối nhau, thân đàn nữ bằng chín nắm tay nối nhau. Dây đàn bằng sợi se từ tơ tằm. Đàn của giàng nam có hai dây (dây tiền, dây hậu), đàn lên dây kiểu quãng 4 gọi là “tàng bốc, cao sơn” hay “thượng thanh” và lên dây theo quãng 5 gọi là “tàng nặm, lưu thủy”; không có âm chuẩn mà chỉ dựa theo dọng hát của người diễn, sau này mới được chuyên nghiệp hóa và ước lệ dây hậu là rề, dây tiền là son, dây trung là sòn (kiểu dây quãng 4). Khi đàn chuyển sang khúc lưu thủy (quãng 5) thì chỉ việc hạ dây rề xuống một cung đồ - son.

Đàn được chia làm hai dây vực, âm khu thấp gọi là hạ thanh, âm khu cao gọi là thượng thanhNếu là đàn ba dây thì dây giữa là dây trầm nhất gọi là dây hậu, thấp hơn dây tiền một khoảng 8. Dây hậu là dây phụ để tạo nên tiếng trầm, thường đánh cung dây tiền, ít khi đánh riêng.

Về kỹ thuật, người ta gảy đàn bằng ngón tay trỏ, ngón cái, còn ngón giữa quặp cán đàn và tỳ sát bầu đàn, với kỹ năng: bấm, vuốt, láy, rung nhấn, pic và bồi âm; bồi âm thường dùng ở khúc lưu thủy; cũng có nghệ nhân vừa gảy đàn vừa kết hợp gõ nhịp trên mặt đàn. Các bản nhạc dùng cho nhạc cụ gồm: các khúc tính pây tàng, tàng nặm, tính chầu.

Xưa kia đàn không có âm mẫu (đô, rê, pha, son) mà chỉ lên dây tùy ý làm sao cho hợp với giọng người hát.

Đàn tính trước kia chỉ dùng trong hát then, nhưng ngày nay đã đưa lên sân khấu biểu diễn, được dùng trong những hình thức hòa tấu, hòa nhiều tính hoặc hòa tính với những nhạc cụ khác.

 
Lô Việt Thắng
Slide01.jpg
Slide06.jpg
Slide08.jpg
Slide08.jpg