Slide07.jpg

Thị xã Cao Bằng - Vùng đất địa linh, nhân kiệt

Ba mặt tam giang trôi cuồn cuộn/Bốn bề tứ trụ đứng chon von/Trừ tà muôn thuở gươm còn đó/Bình chính ngàn xưa dạ chẳng mòn (Hoàng Đức Triều).

 Giữa trùng trùng núi non hùng vĩ, thị xã Cao Bằng luôn là nơi trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, Thị xã bước vào vận hội mới xây dựng thành phố trẻ vùng biên, góp phần tạo động lực để Cao Bằng phát triển nhanh, bền vững.

 

Đền Kỳ Sầm (xã Vĩnh Quang) thờ Thái bảo Nùng Trí Cao.

ĐẤT ĐỊA LINH...

Từ thế kỷ III trước công nguyên đến nay, thị xã Cao Bằng luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa. Nhiều vùng đất nổi tiếng của Thị xã được lưu truyền trong dân gian gắn với nhân vật hào kiệt và di tích. Hưng Đạo - đất vua, chúa “trạch kinh” (chọn xây dựng kinh đô). Cổ nhân cho rằng đây là đất long chầu, hổ phụng sinh vượng khí. Nếu ai đến Hưng Đạo ngắm nhìn sẽ thấy khung cảnh đẹp tựa tranh vẽ. Dãy núi xanh trùng điệp như nghìn con thiên mã (ngựa trời) từ phía Lam Sơn - Hồng Việt, Hoàng Tung (Hòa An) chạy tới bên dòng sông Mãng chảy uốn lượn, bao bọc cánh đồng bằng phẳng hàng nghìn ha. Vùng Cao Bình, Hưng Đạo xưa là kinh đô Nam Bình thuộc nước Nam Cương thời Thục Phán. Dân gian vẫn lưu truyền chuyện “Cẩu chủa cheng vùa” (Chín chúa tranh vua) diễn tả kinh đô xưa có kinh tế, văn hóa phát triển rực rỡ từ thế kỷ III trước công nguyên. Kinh đô Nam Bình có thành Bản Phủ, khắp nơi đổ về giao thương, trao đổi hàng hóa.

Từ thế kỷ XI - XVII, nhiều địa danh Hưng Đạo gắn với biến chuyển của các thời kỳ phong kiến. Năm 1592, Nhà Mạc thất thủ trước quân Lê - Trịnh, kéo quân lên Cao Bằng, xây thành Na Lữ (Hoàng Tung, Hòa An) và đế đô tại Cao Bình. Hơn 80 năm trị vì (1593 - 1677), qua 3 đời vua, nhà Mạc chú trọng phát triển kinh tế - xã hội. Tại Cao Bình, nhà Mạc xây chợ Háng Séng (Chợ tỉnh). Tổ chức khoa cử, tuyển chọn người tài vào học trường Quốc học Bản Thảnh tại Cao Bình. Mở nhiều tuyến đường trọng yếu tới các địa phương.

Trung tâm Thị xã cũ (chưa sáp nhập xã Hưng Đạo, Vĩnh Quang, Chu Trinh, huyện Hòa An), trước năm 1677 là Mục Mã, nơi chăn ngựa của nhà Mạc. Sau khi quân Lê - Trịnh lên Cao Bằng đánh tan nhà Mạc, giao cho tướng Hoàng Triều Hoa trấn giữ Cao Bình. Lỵ sở trấn Cao Bình rời về Mục Mã.

Cổ nhân cho rằng, thành Mục Mã xưa là đất đắc địa, hội tụ 3 dòng sông đổ về: sông Bằng, sông Hiến và sông Cổn. Cùng với 3 dòng sông bao bọc, có 4 ngọn núi chầu quanh, núi Kỳ Sầm phía bắc, núi Kim Pha phía đông, núi Luân Sơn phía nam, núi Khấu Sơn phía tây. Thành Mục Mã là bán đảo như hình con cá bơi ngược dòng, bởi 3 dòng sông bao bọc và 4 núi chầu quanh, gọi là đất địa linh “Tam giang, tứ trụ”. Phong cảnh ngoạn mục, sơn thủy hữu tình. Thuận đường đi các ngả, trên bến dưới thuyền thông thương hàng hóa theo đường thủy từ Mỏ Sắt - Nước Hai - Mục Mã - Tà Lùng - Thủy Khẩu (Trung Quốc)… Qua các thời vua, chúa phong kiến, thành Mục Mã được xây dựng ngày càng vững chắc, tạo phòng tuyến quân sự trấn giữ cửa ngõ phía nam cho vùng lân cận khác.

Trên địa bàn Thị xã, các triều đại phong kiến và nhân dân xây dựng nhiều đền, chùa lớn: đền Kỳ Sầm thờ Thái bảo Nùng Trí Cao; đền Bà Hoàng thờ A Nùng, mẹ Nùng Trí Cao; đền Quan Triều thờ Dương Tự Minh, phò mã nhà Lý; đền Thanh Trung thờ đốc trấn Cao Bằng Nguyễn Đình Bá; Chùa Đà Quận thờ Đà Quận công Mạc Ngọc Liễn, rồi chùa Đống Lân, chùa Phố Cũ, đền Tam Trung...

Đền Quan Triều (xã Hưng Đạo) thờ phò mã Dương Tự Minh.

Thực dân Pháp chiếm đóng Cao Bằng (1886 - 1945), thành Mục Mã là địa bàn trọng yếu được Pháp đặt đại bản doanh Đạo quan binh thứ 2, theo chế độ quân quản. Đồn Mục Mã được xây thành Pháo đài kiên cố bằng đá và bê tông cốt thép, kiên cố nhất Đông Dương.

Với vị trí quan trọng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và Cao Bằng được giải phóng ngày 3/10/1950, Thị xã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Cao Bằng chọn làm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, của tỉnh.

... SINH ANH HÙNG HÀO KIỆT

Tại vùng đất địa linh là trung tâm của miền biên viễn rộng lớn, đã xuất hiện nhiều nhân vật kiệt xuất. Thế kỷ III trước công nguyên, vùng Cao Bình, Hưng Đạo ngày nay là kinh đô Nam Bình của nước Nam Cương do Thục Phán, thủ lĩnh người Tây Âu (Âu Việt) đứng đầu. Năm Đinh Hợi, khi Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân, chia làm 5 đạo quân lần lượt thôn tính Đông Việt, Mân Việt và tràn xuống Tây Âu, với sự tài giỏi thao lược trận mạc, Thục Phán đã lãnh đạo quân và dân mai phục, đánh bại quân Tần, giữ vững vùng đất biên cương. Sau này, Thục Phán kế vị Vua Hùng, hợp nhất Âu Việt và Lạc Việt đổi tên nước là Âu Lạc, lập kinh đô ở Cổ Loa (Hà Nội), lấy hiệu là An Dương Vương.

Thế kỷ thứ XI, thời vua Lý Thái Tông, Thị xã có Nùng Trí Cao ở làng Gia Cung, tổng Tượng Cần (phường Ngọc Xuân), là con thủ lĩnh châu Thảng Do Nùng Tồn Phúc. Ông được vua Lý cho ăn học cùng tôn thất nhà Lý ở Thăng Long, sau giao làm Châu mục Quảng Nguyên, phong chức Thái Bảo, cấp ấn Đô tướng. Quân Tống xâm phạm vùng biên, ông đã lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Tống, giữ yên bờ cõi phía bắc. Ông còn đem quân tiến đánh chiếm được thành Ung châu khiến nhà Tống phải huy động binh hùng tướng mạnh để đối phó. Khi Nùng Trí Cao thua trận, bị quân Tống bắt giết, vua Lý thương xót cho lập đền thờ ở động Tượng Cần (Đền Kỳ Sầm, xã Vĩnh Quang), truy phong Khâu Sầm Đại Vương (vua lớn của núi Khâu Sầm).

Cũng trong thế kỷ XI, trên đất Thị xã xưa xuất hiện hào kiệt Nùng Tôn Đản quê ở tổng Kim Pha (Nà Cạn, phường Sông Bằng), con châu mục Quảng Nguyên Nùng Tồn Thương. Năm 1067, theo kế hoạch của Lý Thường Kiệt đem quân sang đáng quân Tống ở châu Ung và châu Khâm, châu Liêm nhằm ngăn chặn âm mưu xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt chỉ huy quân đánh đường thủy, Nùng Tôn Đản, được giao chỉ huy quân đánh đường bộ tiến đánh thành Ung Châu và châu Khâm, châu Liêm thắng lợi. Mùa xuân 1077, Nùng Tôn Đản tham gia lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt đánh đuổi quân Tống ra khỏi biên cương Tổ quốc. Ông được vua Lý phong Nguyên súy, Phục quốc Thái úy, giữ chức Lang Trung tướng quân, Đô quân thống lĩnh ngự tiền ở kinh thành Thăng Long.

Kể chuyện truyền thống tại Khu lưu niệm đồng chí Hoàng Đình Giong tại phường Đề Thám.

Thời kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp, Thị xã có người con ưu tú Hoàng Đình Giong (1/6/1904), tại Thâm Hoáng (phường Đề Thám). Tháng 12/1929, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Chi bộ Đảng hải ngoại ở Long Châu (Trung Quốc) thành lập, đồng chí được bầu làm Bí thư chi bộ. Đồng chí Hoàng Đình Giong chỉ đạo thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh (ngày 1/4/1930, tại Nặm Lìn, Hoàng Tung, Hòa An). Đồng chí được giao dẫn đầu đoàn đại biểu Xứ ủy Bắc kỳ đi dự Đại hội lần thứ nhất của Đảng tại Ma Cao (Trung Quốc) tháng 3/1935, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng. Tháng Tám năm 1945, đồng chí chỉ huy quân khởi nghĩa giành chính quyền ở Cao Bằng. Ngày 22/8/1945, đồng chí được Bác Hồ đặt tên là Võ Văn Đức, giao nhiệm vụ Chỉ huy đoàn quân Nam tiến vào Nam bộ chống Pháp. Đồng chí trải qua các cương vị: Chính ủy quân giải phóng Nam bộ, Khu Bộ trưởng (Tư lệnh) đầu tiên của Khu 9, Khu Bộ trưởng Khu 6 và anh dũng hy sinh tại Bình Thuận năm 1947. Đồng chí được Đảng, Nhà nước truy tặng Anh hùng LLVTND, Huân chương Hồ Chí Minh.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và trong thời kỳ đổi mới, Thị xã có 2 người được tặng Huân chương Hồ Chí Minh, 9 người được phong tướng lĩnh, 2 người được phong tặng, truy tặng anh hùng LLVTND, 20 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng... đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 
Trường Hà
Slide04.jpg
Slide01.jpg
Slide10.jpg
Slide10.jpg